Thứ Ba, 6 tháng 2, 2007

Slide Show của Yên Khuê

Đã lâu không viết blog vì bận rộn và thực ra thì cũng chẳng có quái gì mà viết. Ờ thì học tập người ta đưa slide show vào blog một tí xem nó như thế nào ? Mất công để blog "mốc meo" lâu quá có cô em lại nhắc ! Ừ thì cũng phải học đòi người ta "đú đởn" tí cho nó trẻ nhỉ ?

.

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2007

Nền Hòa Bình ăn thịt những đứa con của nó


Nguyễn Loan Brossmer

Lời dẫn: Đây là câu chuyện thường ngày của một gia đình ngư phủ ở Huế. Gia đình là nạn nhân trong chiến tranh Việt Nam và tan nát thời hậu chiến. Tác giả bài này lúc còn nhỏ bị thương nặng và được một tổ chức cứu trợ đưa về Đức. Hai mươi năm sau, anh trở về quê nhà. Ở đây anh miêu tả số phận của mình và gia quyến.

*****************

Tôi cảm ơn mẹ tôi về tất cả mọi điều. Trong một đêm tháng Hai dịp Tết năm 1968, tôi bị thương vì một mảnh lựu đạn. Mẹ bán đi chiếc thuyền (đồng thời cũng là nơi trú ngụ của gia đình) để có tiền chữa chạy cho tôi rồi đưa anh chị em tôi đi ở nhờ nhà bà con.

Sáu tháng sau, khi các bác sỹ đã chịu bó tay thì bà đưa tôi ra sân bay. Khi ấy mẹ đang mang bầu tháng thứ bảy. Ở sân bay, các nhân viện của một tổ chức cứu trợ Đức đã chờ sẵn. Trong giây phút ấy trong lòng tôi trỗi lên một nỗi buồn không bao giờ dứt. Đấy là một ngày nào đó trong một cuộc chiến nào đó, một cuộc chiến mà cả về sau này cũng chẳng có một ý nghĩa gì. Cuộc chiến này đã giết 58.000 người Mỹ và hơn 3 triệu người Việt Nam. Tôi chỉ bị gãy cột sống, những người khác thì óc phọt ra, tan xương nát thịt vì đạn pháo hay da thịt cháy queo như một tờ giấy.

Lại nói về mẹ tôi: Mẹ trao đứa con trai của mình cho những người xa lạ để cứu nó, Mẹ khuỵu xuống đường băng bê tông, trên vũng dầu rớt ra từ một chiếc máy bay nào đó. Thiên hạ, lúc đầu còn há hốc mồm, ngạc nhiên tò mò xúm quanh người đàn bà khóc tức tưởi, giờ quay đi chỗ khác. Vài năm sau mẹ qua đời, không hề được thấy con một lần nữa. Người ta kể với tôi rằng tôi không hề khóc từ khi ngồi trong máy bay – đôi khi trẻ con câm lặng vì nỗi đau của chúng quá lớn. Có lẽ nỗi buồn của tôi sẽ trở nên nực cười khi cố gắng thử khóc bù cho những giọt nước mắt thuở ấy. Nỗi buồn cũng chôn sâu trong trái tim cha tôi và 6 anh chị em tôi. Gia đình tôi là một trong hàng trăm gia đình ngư phủ ở Huế sống trên thuyền. Nỗi buồn ấy đưa chị Thê (lớn hơn tôi 2 tuổi) thường xuyên đi coi bói. Thày bói bảo: Hãy ở lại đây, rồi chị sẽ có duyên có phận ở chốn này. Anh chị em tôi kể là cha tôi thường đột nhiên rời chỗ ngồi quen thuộc của ông ở đằng mũi thuyền, lần vào dưới mái để mở chiếc tủ gỗ. Giữa những cây nhang và bức thư là nơi cất giữ những bức ảnh của mẹ đã được trọn 15 năm và gần như đã ngả mầu vàng. Tuy nhiên ông tin cậy vào sức mạnh to lơn của ký ức trong ông. Khi cha tôi ngồi trước bàn thờ, ông trò chuyện với linh hồn của những người đã khuất.

Cũng phải biết thêm rằng: Ngay gần chùa Thiên Mụ, bên dòng sông Hương nơi những cây phượng cao cao với những chùm hoa đỏ như lửa ngả bóng xuống, cha tôi đã đạp phải mìn và phải cưa hai chân. Đấy là chuyện xảy ra tháng 3 năm 1975, sáu tuần trước khi cuộc chiến chấm dứt. Cha tôi không khi nào than thở về chuyện đó. Chị Thê bảo tôi rằng, nếu mẹ còn sống chắc không đến nỗi xảy ra nhiều bất hạnh như thế. Ở Huế mà phàn nàn về những điều đó thì chẳng khác nào than vãn vì đêm nào cũng lắm muỗi. Chẳng ở dải đất nào có nhiều nạn nhân chiến tranh như ở An Nam, nơi giới tuyến đi qua.

Có thể, không, chắc chắn sự có mặt của mẹ cũng không ngăn cho những mộng ước quá lớn đến mức chúng tan vỡ. Tôi nói về anh Phong của tôi. Anh ấy là chàng trai rắn rỏi nhất trong số trai tráng sống và làm việc trên sông Hương. Sự cương nghị hiện rõ trên nét mặt làm anh ấy khác hẳn đám anh chị em khác. Khi những bạn chài khác đã nghỉ thì anh ấy vẫn còn làm. Đúng 4 giờ sáng họ nhảy xuống biển và Phong lặn thật sâu để rải lưới, tưởng chừng như chẳng bao giờ anh trồi lên nữa. Trong những tháng ngày Phong chưa biết rằng những ước mơ có thể ngốn sạch tâm hồn, tôi quan sát anh làm công việc thứ hai của mình. Anh vác bao đá nặng gấp đôi trọng lượng cơ thể đi phăm phăm trên công trường xây dựng và chỉ chịu ngừng nghỉ khi ói ra vì kiệt sức. Vốn liếng của anh là những bắp thịt rắn như thép, tính háu đá, hiếu thắng và không bao giờ chịu đầu hàng. Nhưng rồi nỗi đau đã tới.

Năm 1990 tôi về thăm Huế lần đầu, hai mươi năm sau vết thương chiến tranh của tôi, vết thương đã đưa tôi lên xe lăn. Chuyến viếng thăm ấy đã làm thay đổi cuộc sống của gia đình tôi một cách ngớ ngẩn. Những tuần đầu tôi mới về Phong còn là con người dịu dàng nhất trên đời. Chúng tôi nắm tay nhau trên hàng hiên khách sạn Hương Giang hướng ra sông. Chúng tôi nói cho nhau nghe về những ước nguyện. Tôi hình dung ra một ngôi nhà villa mầu trắng ở Huế, rồi đây tôi sẽ ở đó. Ước vọng (hão huyền) của anh ấy cũng chẳng kém vĩ đại:Anh ấy muốn cưỡi một con thuyền nhỏ vượt đại dương và một ngày nào đó đột nhiên gõ cửa nhà tôi ở Munich. Tôi cười: Anh đã biết châu Âu ở chỗ quái nào đâu mà! Vẻ mặt trang nghiêm, anh ấy chỉ vào đường chân trời, nơi dòng sông uốn khúc và biến mất giữa những bụi chuối và những lùm cỏ dại ven bờ: Đấy là địa chỉ của Thiên Đàng.

Tôi nghĩ đến việc mình cần làm là phải trao lại món quà mẹ đã cho tôi. Vài ngày trước khi bay về Đức tôi mua một căn nhà để cha tôi, anh Phong (người anh lớn 28 tuổi), Phóng (em kế của Phong, 24 tuổi) cùng với ba chị em gái khác: Thê (32 tuổi), hai chị em sinh đôi Thu, Hiên (22 tuổi) và Bé (17 tuổi) ở cùng với lũ con cháu. Như không tin vào mắt mình, Phong nhìn chăm chăm vào chiếc phong bì màu xanh đựng số tiền mà có lẽ anh phải làm quần quật ba chục năm thì may ra mới kiếm nổi. Rồi anh lại nhìn chằm chằm vào thằng em trai xa xứ đã trở nên mập mạp nhưng vẫn vận một chiếc áo thun tinh tươm, đôi chân cứng đơ không đi lại được nhưng vẫn đóng bộ Jean Mỹ.

Từ bữa đóPhong biết rằng anh ấy chính là kẻ thất bại. Chỗ ở mới dù có sang trọng như hoàng cung thì cũng không xoa dịu được nỗi đau của anh, khi biết rằng, có những nơi mà ở đó rõ ràng người ta dù không có đôi chân lành lặn vẫn có thể trở nên giàu có vô cùng, trong khi anh làm lụng đến kiệt sức vẫn chỉ mãi mãi là một trong số những người dân chài nghèo khó. Mỗi buổi sáng về nhà với mành lưới rỗng, người sặc sụa toàn mùi ốc, mùi rong, rồi còn phải ra chợ đấu khẩu với những mụ đàn bà chanh chua, nhưng mụ đàn bà cứ xăm soi lật ngược, lật xuôi từng con lươn, mớ cá vụn, kì kèo trả giá, cân tới cân lui chán chê rồi mới chịu mua. Từng ấy công việc mang lại cho Phong mỗi ngày khoảng 8000 đồng, chưa tới 1 USD. Quỷ thật, tại sao thằng em không xay cho nhà mình hai, ba, bốn ngôi nhà ? Ít ra thì cũng phải kiếm lấy một căn phố lầu gần chợ Đông Ba để ông anh có thể ngồi trên cao phẩy tay lấy le với mấy con mẹ hàng cá chứ !

Suốt hai mươi năm ông bố không thật sự tin rằng lại còn được ôm trong tay đứa con lưu lạc. Bởi vậy ông tha thứ cho nó mọi sự: bộ đồ jean, chiếc áo thun trắng, chiếc bao thư màu xanh và cả cái việc mãi đến bây giờ mới về thăm bố. Bởi vậy ông nhắc thằng anh thua thiệt: “Mày phải biết ơn nó, nó mới đúng”. Từ lâu Phong không còn chịu sự dạy bảo của cha nữa, anh nghe vậy chỉ gật đầu im lặng. Tuy nhiên, dường như một quyết tâm đen tối đã thoát ra từ tâm hồn anh ấy, vì nhìn vẻ mặt anh u ám lắm.

Trở về Đức được ít bữa thì tôi nhận được thư của Phong, người hoàn toàn mù chữ, chắc anh đã đọc cho ai đó viết: “Ma quỷ gieo rắc bệnh tật, xui xẻo vào nhà, chúng tôi phải mua căn nhà mới, nhờ chú giúp”. Vâng, ở Việt Nam không hiếm khi thánh thần, ma quỷ xông vào nhà bạn và bạn chớ coi thường, hãy liệu hồn đấy! Nhưng đây là chuyện Phong bịa ra, trong nhà người duy nhất bị ma ám là Phong. Và con ma ấy là ma men, một bác sỹ người Huế tôi quen biết từ bên ĐỨc đã cho tôi hay. Từ sau ngày tôi ra đi, Phong nổi máu điên, cứ ngỡ mình là ông lớn, suốt ngày say xỉn, đi khắp làng và thượng cẳng chân hạ cẳng tay với tất cả những ai không tin những lời anh ta ba hoa hoặc không cho anh ta vay tiền. Là con trai trưởng trong nhà, Phong đứng ở vị trí thứ hai sau ông bố. Có lần Phóng định mở máy cho thuyền chạy thì Phong đẩy bắn thằng em ra và mọi người cho qua cái hành động ngang ngược ấy của anh. Nhưng bây giờ thì Phong không chỉ đánh bạn bè va lũ em mà còn nện cả bà con họ hàng, thậm chí cả ông bác ruột anh của mẹ tôi. Xưa nay, kể từ ngày mẹ tôi mất ông vẫn để mắt trông nom tới gia đình tôi, giúp gì được là bác luôn giúp. Ngay cả bố cũng sợ những trận lôi đình nổ ra khi Phong say xỉn: Khi ông còn say thì chỉ một câu trả lời sai cũng có thể làm ông ta nổi cơn thịnh nộ. Cha tôi nghĩ đến điều đó và mọt đêm, như bao đêm khác. Phong về nhà nồng nặc mùi bia. Anh ta đã chờ đợi hoài mà không thấy bên Đức gửi tiền về, Phong lại gần bố và bảo: “Con nợ nần nhiều. Ta phải quay về sống trên thuyền thôi, bán cái nhà này đi”. Và vậy là bán nhà. Suốt một thời gian dài cha tôi đã giấu không cho tôi biết nguyên nhân thật và sao lại có chuyện bán nhà đó. Nếu tôi có hỏi thì ông chỉ mỉm cười đau khổ. Nhiều năm sau tôi mới biết là cha tôi hoang mang và xấu hổ, ông không thể nói về chuyện đó. Nỗi nhục do con cái gây ra, ông cảm thấy như nỗi nhục của chính mình. Sợ bị mất thể diện là một trong những tính cách của người Châu Á. Điều này thì bất cứ cuốn sách du lịch rẻ tiền nào cũng biết cách giải thích. Ít khi nào tôi thấy ấn tượng hơn để nói tính cách Châu Á thực sự là gì. Với một sự tuyệt đối không gì lay chuyển nổi, với phẩm giá và sự quên mình, ông bố đỡ lấy tất cả gánh nặng của thế gian. Không có gì thuyết phục được ông rằng không phải lỗi tại ông, khi mà truyền thống, những giá trị và kinh nghiệm cổ truyền bị phản bội như Phong đã từng làm. Ở Việt Nam hầu như không còn gì tệ hơn là gia đình lục đục. Tập thể là một trong những bí mật của đất nước này, nơi mỗi người sinh ra trong một cộng đồng và ngay từ thuở còn thơ đã học cách gánh vác trách nhiệm cho người khác. Người ta chia sẻ với nhau những thành công, thất bại, nỗi đau. Việc Phong bán đi ngôi nhà chung là không thể tha thứ vì lợi ích cá nhân không khi nào được gây hại cho gia đình. Lẽ ra anh ta phải tự bước ra khỏi nhà. Tuy nhiên, một người đã cụt cả hai chân và mất uy quyền như cha tôi, quá yếu ớt để tống cổ anh ta đi. Và hậu quả là các con ông, hết đứa này đến đứa khác chối từ trách nhiệm của thế hệ mình.

Chị Thê cũng vậy. Trước kia chị cũng giống như mẹ: chăm sóc chu đáo việc nhà, nghiêm khắc và cảm thông với các em và cũng như trong hoàn cảnh tương tự, chị đảm nhiệm cả việc dạy bảo chúng. Nhưng rồi sự thể đổi thay. Thê bắt đầu hút thuốc và chửi đổng như những cô gái thô lậu. Chị đánh bài hết ngân quỹ của cả nhà, số tiền mà những bà máu me cờ bạc nhất cũng chẳng dám làm. Bởi vậy, chẳng ngạc nhiên khi chị chỉ kiếm được một anh chồng đã có một đời vợ. Ngay cả lời của thày bói cũng mất thiêng. Thê quyết định vào Sài Gòn, một trong những thành phố có thể biến những kẻ rửa bát thành triệu phú. Ở đó những dàn âm thanh Nhật Bản, khách sạn chọc trời, những cuộc phiêu lưu mạo hiểm ấn giấu trong mọi ngóc ngách đang chờ đón bạn, và cả chuyện bạn thuộc giới thượng lưu trong một thành phố lớn nữa. Thành phố không bao giờ ngủ: người ta cười, hò hét và phóng xe máy trong cái thành phố tràn đầy năng lượng này, cho dù tất cả phần còn lại của thế giới đều đã đi ngủ. Cơ man nào là người các tỉnh lân cận và ở các vùng khác của đất nước trong những năm qua đã dời nhà về thành phố. Hầu như không có thành phố nào trên thế giới này hiện nay lại phát triển nhanh đến như thế. Và theo đòi hỏi của nó thì những năm đầu tiên của thiên niên kỷ tới nó sẽ là định tinh hấp dẫn nhất châu Á, còn trước cả Hong Kong hay Singapore. Những ai ngày mai không muốn trở thành kẻ thất bại thì hôm nay hãy sớm thu xếp hành lý “đi Sài Gòn” là công thức kỳ diệu hấp dẫn vô số người đi tìm vận may. Như hai chị em Thu và Hiên nghĩ, không còn gì để mất ở Huế. Có thể họ nghĩ đúng: điều gì chờ đợi Hiên khi nó không chồng mà chửa. Những ngày cuối cùng trước khi sinh, nó rúc vào một góc thuyền để trốn tránh những lời độc địa của họ hàng, làng xóm. Khi đứa bé chào đời được ít lâu thì Thu và Hiên lên Sài Gòn.

Phóng - thằng em, ở nhà vẫn gọi nó là Tèo (một cái biệt danh có nghĩa gần như là ngốc) ở lại Huế với Phong – ông anh. Phóng không chịu lấy cô gái mà cha tôi đã ngắm cho nó. Nó bỏ chạy (tất nhiên là vào Sài Gòn) và sa ngay vào vòng tay của một cô điếm. Số tiền lận lưng chỉ đủ cho nó sờ vú cô ta - thế nhưng khi về đến con thuyền xưa nó đã oang oang khoe tài trai của mình. Dù là ban đêm nó vẫn đeo cái kính râm mới thửa được - thứ hàng dỏm nhái theo mẫu Ray-Ban. Bọn trẻ ở Sài Gòn đã bảo với nó rằng thứ này đang là mốt nhất.

Con Bé, 17 tuổi, là đứa đầu tiên tính từ chị Thê trở xuống lại được tiếp tục đến trường đi học. Thê còn nhớ rõ hồi đó mẹ cấm chị trốn học như thế nào. Còn con Bé thì cho tới giờ này chưa hề tháy mặt nó ở trong lớp. Thay vì đi học, nó khoe có ông anh bên Tây Đức tiếp tế để vay của người ta khi 50 USD lúc 100 USD, số tiền bằng lương tháng trung bình của hai người. Có trời mới biết nó dùng số tiền ấy vào việc gì.

Trong khi đó ba chị em gái ở Sài Gòn đã mở một quán ăn nhỏ bán bánh bột lọc đặc sản, mỗi tháng cũng kiếm được dăm chục đô. Nhưng trước hết là trong thành phố kỳ diệu này họ được biết đến những thứ mà người ở lại Huế có nằm mơ cũng không thấy được. Ví như lần đầu họ đi vào thang máy, cứ nơm nớp là nó sắp rớt đến nơi hoặc một lúc nào đó Thê học cách gọi điện thoại, mới đầu chẳng biết nghe đầu nào, nói đầu nào. Lại có bữa cả ba chị em nhìn thấy cái vòi hoa sen trong phòng tắm, cứ ngỡ là một loại máy liên lạc nào đó. Họ nghe ngóng mãi chẳng thấy tiếng ai, đẩy cái cần gạt sang nút đỏ, thế là nước nóng rẫy trút xuống ào ào, suýt bỏng hết những bàn chân trần. Thu bảo, thực ra họ muốn quay trở lại Huế. Chị nhớ bố, ông ấy chẳng còn sống được bao lâu nữa. Thu nghĩ đến những chuyện xích mích mà chị muốn quên đi, chị nghĩ đến chuyện chị không thể hình dung ra trong đầu một nơi nào đó mà chị có thể sống hạnh phúc thực sự. Nếu Thu nghĩ ngợi về số phận của chị thì lòng chị lại buồn rười rượi, nỗi buồn khiên chị câm lặng.

Có thể đó là nỗi buồn đã kết nối chúng tôi lại làm một. Tôi nghĩ người ta cần rất nhiều sức mạnh cho những hoạch định của cuộc đời mình, nhưng cuối cùng thì ở một chỗ nào đó lại thiếu năng lượng để tin vào chúng. Trong mơ tưởng của tôi không còn nữa chiếc villa trắng ở Huế. Nó sẽ không bao giờ được xây, vì tôi cần một chiếc máy điều hòa để khỏi hoang mang bởi cái nóng ở Việt Nam, tôi cần biết kết quả bóng đá cuối tuần và tờ nhật báo. Có lẽ chẳng có gì hay hơn là ngồi ngoài hàng hiên thưởng thức trà đen Bảo Lộc, sáng tác tiểu thuyết và gõ vào bàn phím. Không, nỗi khát khao này sẽ không bao giờ thành hiện thực.

Vào cái ngày tôi xuất hiện ở Huế, anh chị em tôi đã đánh mất sự vững tin của họ. Trong khi tôi nghĩ rằng tôi có thể mua cho họ hạnh phúc thì tôi đã cướp đi của họ lòng tự hào và tự trọng, những gì ta còn cảm nhận được trong con người khi ta có thể thực hiện ước mơ bằng lao động của chính mình. Cha tôi đã suy sụp và kiệt lực quá rồi, chẳng có thể ngồi bàn bạc với ông về điều đó. Không có nhiều người để tôi có thể nó với họ về điều đó. Có một người phụ nữ sẽ lắng nghe tôi, tất cả chúng tôi sẽ bỗng nhiên thêm dũng cảm gấp bội nếu chúng tôi được nhìn vào đôi mắt dịu dàng của bà. Mẹ, con muốn được một lần nữa nói với mẹ, dù chỉ năm phút thôi./.



Thứ Ba, 2 tháng 1, 2007

Chuyện buồn đầu năm.

Đã định không viết về chuyện buồn vào ngày đầu năm mới ấy thế nhưng cứ bị ám ảnh bởi những gì được chứng kiến và cảm nhận khiến tôi không thể không viết.
Vào đúng cái ngày 1/1/2007 thì nhận được tin vợ của một anh đồng nghiệp bị sảy thai vào tháng thứ 6, một bé gái sinh ra và sống được trên đời chỉ có vẻn vẹn 35 phút đồng hồ. Anh đặt tên bé là Vũ Thị Vô Danh (tức BUỒN - tên tục của bé) còn sư thầy ở chùa Vĩnh Nghiêm khi cầu siêu thì đặt pháp danh cho cháu là GIẢI THOÁT!
Sáng sớm nay, bác nhân viên nhà xác của bệnh viện với những thao tác quen thuộc của người làm công nhẹ nhàng tháo chiếc khăn vải quấn bé để mọi người nhìn cháu lần cuối rồi bế cháu vào quan. Tiếng đóng đinh chan chát! Khe khẽ tiếng khóc của mấy chị phụ nữ! Cháu được đưa xuống Bình Hưng Hòa làm lễ hỏa táng rồi đưa tro cốt của cháu về chùa Vĩnh Nghiêm làm lễ cầu siêu. Cầu cho cháu được siêu thoát !
Cũng là một kiếp người !

Người tử tế và "chuyện tử tế"


Đã dự định khép lại loạt bài viết về bộ phim "Chuyện tử tế" của đạo diễn Trần Văn Thủy, ấy thế nhưng hôm nay lại đọc được bài viết của đạo diễn, NSƯT Nguyễn Thước kể về những ngày quay cảnh Đồng Xuân Thuyết nằm trên giường bệnh và đọc cho bạn bè nghe một đoạn trong cuốn sách "Chuyện của muôn đời", lại thấy bứt rứt, lại thấy khó chịu trong người. Thôi thì đành phải post cả bài viết đó lên blog để chia sẻ với bạn bè.

Người tử tế và “chuyện tử tế”

Năm 1985, nhà biên kịch - đạo diễn Nguyễn Sỹ Chung cùng nhà quay phim Đồng Xuân Thuyết (1940 – 1986) vào TP.HCM để thực hiện bộ phim tài liệu nhựa “Cùng một dòng suy nghĩ”, một bộ phim về những vấn đề của tiểu thủ công nghiệp thành phố.

Một tuần sau, Đồng Xuân Thuyết đột ngột bay ra cầm theo lá thư của đạo diễn Sỹ Chung gửi Ban giám đốc. Trong thư, đạo diễn Sỹ Chung đã đề nghị Ban Giám đốc cho tôi bay vào gấp để làm tiếp công việc của Đồng Xuân Thuyết.

Cũng không hiểu vì sao, những năm ấy, nhiều nhà làm phim tài liệu đã qua đời, đều do một căn bệnh hiểm nghèo: ung thư.

Nhà quay phim Nguyễn Quý Nghĩa, Nguyễn Quang Trình, nhà biên kịch Quang Minh, đạo diễn Tô Cương, nhà quay phim Phan Trọng Quỳ, đạo diễn Trần Thịnh, đạo diễn Xuân Thành dều ra đi vì căn bệnh tai quái ấy và, bây giờ là Đồng Xuân Thuyết…!

Công việc của anh Sỹ Chung và tôi rồi cũng xuôn sẻ. Sau một tháng, chấm dứt những cảnh quay cuối cùng, chúng tôi bay ra và mang theo quà của Ban chủ nhiệm Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh gửi cho anh Thuyết.

Sáng hôm sau, nộp trả máy quay, đóng gói phim gửi in tráng xong, tôi và anh Sỹ Chung chạy ngay vào Viện E, nơi anh Thuyết đang nằm.

Cũng không thể tưởng tượng nổi khi bước vào phòng bệnh, một người quay phim to khỏe như con bò mộng ngày nào, chỉ đổ bệnh sau một tháng, anh đã như một bộ xương nằm trên giường.

Khi chúng tôi đến, cũng thật bất ngờ đã thấy đạo diễn Trần Văn Thủy đang ngồi cạnh anh và hình như các anh đang trao đổi với nhau một công việc gì đó rất say sưa.

Sau những thăm hỏi về công việc, sức khỏe thì chúng tôi mới biết Đồng Xuân Thuyết đang trở thành một nhân vật trong bộ phim tài liệu “Chuyện tử tế” đang triển khai của đạo diễn Trần Văn Thủy.

Cách đó một tuần, đạo diễn Trần Văn Thủy đã quay những cảnh Đồng Xuân Thuyết trên giường bệnh đang tâm sự với bạn bè đồng nghiệp. Anh còn hứng chí đọc lại cho bạn bè một đoạn thú vị luận về tâm hồn và thể xác trong cuốn “Quy luật của muôn đời” của nhà văn Nga Dumbatzê.

Hôm nay Thủy vào, thông báo cho Thuyết kết quả của mẻ phim nháp vừa xem. Hình như cũng chưa hài lòng lắm và các anh muốn quay lại.

Những chuyện mà tôi và đạo diễn Sỹ Chung định kể cho Đồng Xuân Thuyết nghe về một tháng làm việc với những việc làm được và chưa làm được, những vui buồn của chuyện làm phim bỗng trở nên nhợt nhạt khi đạo diễn Trần Văn Thủy và nhân vật Đồng Xuân Thuyết của Thủy tiếp tục bàn về bộ phim tương lai của các anh sẽ như thế nào.

Thủy muốn lùi bộ phim tới lúc Thuyết nằm xuống. Đám tang của Thuyết với bạn bè đồng nghiệp và những người thân đưa tiễn sẽ phải quay vào phim để làm cái cớ bàn tới lẽ sống của cuộc đời.

Thủy thì say sưa nói đến mạch phim tiếp theo, những vấn đề sẽ được động chạm tới. Thuyết thì rất hào hứng với chi tiết đám tang mình sẽ được quay vào phim để lấy cớ cho một mệnh đề.

Cái máu quay phim trong nhà quay phim Đồng Xuân Thuyết bỗng bật lên, anh hào hứng bàn với Trần Văn Thủy rằng cái đám tang sẽ phải quay như thế nào.

Lê Văn Long (người quay phim đang quay cho đạo diễn Trần Văn Thủy) sẽ phải đưa máy quay xuống dưới huyệt và đón cảnh cỗ quan tài từ từ hạ xuống ra sao… “Cứ thế, cứ thế…!”

Tôi ngồi đấy mà lạnh gáy. Nhìn sang, thấy đạo diễn Sỹ Chung lặng đi.

Hình như nhà quay phim Đồng Xuân Thuyết đang bàn về việc quay một đám tang của một ai đấy đang là nhân vật của các anh…

…Nhớ lại chuyện người anh, người đồng nghiệp, nhà quay phim Đồng Xuân Thuyết của chúng tôi, chúng tôi không bao giờ quên cái khuôn mặt hốc hác, cặp kính lão thường đeo ngày nào, giờ đây như to lên một cách không bình thường trong phim “Chuyện tử tế”:

“Mấy ngày hôm nay tớ đau kinh khủng, như xé ruột. Nhưng những lúc đỡ, đọc cuốn sách này tớ thấy hay quá! Đọc thử các cậu nghe một đoạn nhé: Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác.

Nó nặng đến nỗi một người không mang nổi. Bởi thế người đời chúng ta chừng nào còn sống hãy cố gắng giúp nhau để cho tâm hồn trở nên bất tử.

Ông giúp cho tâm hồn tôi sống mãi, tôi giúp người khác, người ấy lại giúp người khác nữa, và cứ như thế cho đến vô cùng… Sao cho cái chết của một con người không đẩy ta vào tình trạng cô đơn trong cuộc sống…”.

Có lần mẹ anh vào thăm anh, thương con quá, bà òa khóc: “Con ơi nhà ta bất hạnh quá!”.

Tôi thấy anh Thuyết bật dậy, ôm lấy mẹ và nói: “Sao mẹ nói thế, con hạnh phúc lắm, con ốm có tất cả bạn bè quay con, cho con các thứ, tiếp máu cho con, lùng mua mật gấu cho con uống, ai hạnh phúc bằng con nữa?”.

Tôi nhìn, nước mắt tứa ra trong hốc mắt của bà.

Anh là người tốt bụng với tất cả, anh đã sống như một người tử tế.

Có lẽ, nhờ cái sức sống tiềm tàng, mãnh liệt trời cho trong anh, sau ca phẫu thuật Thuyết khỏe lại như chưa từng đổ bệnh. Một hôm Thuyết phóng cái Honda 67 đen xì tới nhà Thủy và hét to: “Thủy ơi, phim mày đổ rồi, tao không chết thì phim mày đổ rồi…”.

Từ trên gác ba, nghe hai tiếng “Thủy ơi”, đạo diễn Trần Văn Thủy biết ngay chỉ có Thuyết. Anh vội chạy xuống đón bạn. Không có cảnh Thuyết chết thì xoay cách khác, mà không làm phim này thì làm phim khác, Thuyết mà sống thì Thủy còn hạnh phúc nào bằng…Họ là vậy!

Tình cảm ấy, đạo diễn Trần Văn Thủy đã dồn vào những cảnh kết phim với tâm sự của chính anh “…

Có dám tranh cãi với ai đâu và có gì mới đâu? Chỉ thương bạn, người đồng nghiệp xấu số, lúc sống và lúc chết đều vui lòng để chúng tôi quay phim. Nỗi bất hạnh to lớn trong quá khứ của gia đình cậu ta kể ra ở đây không tiện.

Vậy mà vẫn tự cậu ta đùa bỡn với chính cái chết của mình cho đến lời cuối… Cậu ta bảo rằng, tao thèm sống quá, muốn sống nữa để xem chúng mày làm cái phim tao chết như thế nào ?...”.

Trời ơi, những người làm phim đàn anh của chúng tôi đã từng sống và nghĩ với nghề, với đời như vậy! Mỗi khi nhớ lại, tôi vừa buồn vừa muốn làm thêm điều gì đó cho nghề mà tôi theo đuổi.

Có một lần đạo diễn Thanh An nói với tôi: “Với những người làm phim tài liệu, trước tiên phải có bản lĩnh, có bản lĩnh rồi mới đến tri thức và tài năng…”.

Vâng, cái bản lĩnh của những thế hệ nghệ sĩ điện ảnh tài liệu Việt Nam đã kết lại trong anh, nhà quay phim Đồng Xuân Thuyết, người anh, người đồng nghiệp của tôi.

NSƯT Nguyễn Thước
(đạo diễn phim tài liệu)

(Theo Tiền Phong Online)

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2006

Người không có nhiệt tâm


Vừa lên bốn đã là nạn nhân của chiến tranh Việt Nam và phải phấn đấu vượt lên trên bệnh tật và định mạng, vẫn ngồi suốt trên xe lăn, hơn hai mươi năm sau Nguyễn Loan Brossmer đã trở thành phóng viên. Nhân dịp Robert S. McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sang Đức, nhà báo đã viết thư đề nghị có một cuộc phỏng vấn, và McNamara đồng ý nên đã có hẹn. Nhưng ông ta không ngờ, khi chạm trán mới “vỡ lẽ” phóng viên là một chàng trai Việt Nam, nạn nhân của cuộc chiến tranh tội ác mà ông ta đã một thời là người đạo diễn. Hoảng hồn, ông ta từ chối thẳng thừng.

Sau đây là những cảm nghĩ của phóng viên hôm đó, đăng trên tạp chí Focus của thành phố Munic ngày 18/9/1995:

Có lẽ người ta chỉ có thể chịu đựng và giải thích được số phận bằng nhiệt tâm, bởi vì nếu nhiệt tâm không phải nguyên nhân chính, mọi điều xảy ra chỉ còn là một sự điên rồ.

Cũng như ngày ấy, hơi nóng trong địa ngục xanh ngột ngạt đến mức chỉ sau vài giây, lưng áo kaki của các chàng trai đã thấm đẫm mồ hôi. Tháng 5/1962, một người đàn ông tóc chải ngược mang kính không gọng, bước vào khu rừng. Bộ mặt ông ta là bộ mặt của người không bao giờ sai lầm. Cặp mắt ông ta lạnh lẽo và chính xác như một con diều hâu trước lúc vồ mồi. Không ai còn cảm thấy cái nóng 40 độ thiêu đốt nữa. Trong giây lát, bầu không khí như đông cứng lại. Mọi người có mặt đột nhiên cảm thấy trong cơ thể mình, ngoại trừ cái đầu, không có bộ phận nào khác, kể cả một thứ vẫn thường được gọi là trái tim. Ở một số người, trái tim lạnh lẽo cũng là bản chất đặc trưng hệt như những đường vân trên ngón tay họ vậy. Người mới đến cũng nằm trong số hiếm có đó. Đây là lần đầu tiên ông ta đến thăm Việt Nam. Nhiều năm sau đó, nhà văn Neil Sheehan, vừa đoạt giải Pulitzer, nhớ lại: “Sử dụng vẻ tự phụ ngờ nghệch của mình để làm an lòng tướng lĩnh, (nguyên) Bộ trưởng Quốc phòng McNamara chính là hiện thân của thói xấc xược trong giới chính khách cầm quyền”.

Giờ đây, Robert S. McNamara, người nổi tiếng nhất trong số tất cả các cựu Bộ trưởng Quốc phòng của Mỹ lại xuất đầu lộ diện. Ông lão xuôi ngược khắp thế giới, đến Bec-lin, Hà Nội, Mát-xcơ-va. Ở nơi nào, ông ta cũng phát biểu hùng hồn, nhưng hễ khi có người chất vấn là ông ta lại biến mất. Đã có thời, McNamara, rải chất độc màu da cam lên đất của đối phương, nhưng giờ đây ông ta lại tự coi mình là sứ giả hòa bình - ít ra kể từ tháng tư năm ngoái, khi ông ta tung ra cuốn sách In retrospect (Hồi tưởng) công bố những đánh giá của ông ta về chiến tranh Việt Nam. Một câu trong cuốn sách đó đã bay đi khắp thế giới: “Chúng ta đã sai lầm, hoàn toàn sai lầm”

Mới đây, tôi có gửi cho Mc Namara một bức thư hẹn gặp nhân dịp ông ta đến dự một cuộc hội thảo hòa bình ở Béc-lin. Thường thì người ta không viết thư cho những kẻ người ta coi là tội phạm và giết người. tuy nhiên, tôi có lý do riêng: sinh năm 1964 ở Huế, một thành phố miềng Trung Việt Nam, người ta đã đưa tôi đi Đức vì tôi là nạn nhân chiến tranh Việt Nam. Tôi đã cho rằng cần nói chuyện với McNamara để cả hai chúng tôi có thể quên đi quá khứ. Tất nhiên trước hết, tôi phải chửi cho ông ta một một trận. Sau đó, tôi sẽ rộng lượng tha thứ cho ông ta, điều mà chỉ các nạn nhân mới có quyền làm. Phóng viên nhiếp ảnh đi cùng hết sức nóng lòng chờ đón giây phút chụp được cảnh hai chúng tôi ôm hôn nhau.

Ở Béc-lin cuộc nói chuyện của chúng tôi kéo dài đúng hai mươi giây, không hơn không kém. Tôi ngồi trong khách sạn Martitim chờ đợi ông ta. Rồi ông ta từ trên thang gác đi xuống, người thẳng đờ như khúc gỗ. Lần thứ nhất, thứ hai rồi thứ ba, ông ta lạnh lùng hủy bỏ cuộc phỏng vấn đã hẹn trước với tôi, với một lý do đưa ra là: “Tối nay tôi đi rồi”. Trước đó tôi đã quên mất rừng ông ta là người có thể làm mọi vật xung quanh đóng băng. Khi cái nhìn của ngày McNamara vĩ đại lướt qua tôi, bỗng nhiên tôi bừng tỉnh ra. Cái nhìn ấy giúp tôi hiểu nhiều về chiến tranh Việt Nam hơn là những gì tôi muốn biết.

Hồi tưởng là một cuốn sách tự thú kỳ quặc và không tưởng. McNamara đã phải dùng hết 400 trang giấy để giải thích về tai nạn của Mỹ ở Việt Nam cũng giống như một người vì lơ đãng mà mua lầm phải một chiếc xe hơi tồi. Ông ta ngắn gọn bào chữa cho “sai lầm thực thụ” của ông ta như sau: “Chúng tôi bận tối mắt tối mũi” và “đơn giản là” chúng tôi có quá ít thời gian để cùng nhau bàn bạc mọi vấn đề”.

Không, không hề có một lời xin lỗi. Chẳng cần ông ta phải tuyên bố hùng hồn, có lẽ chỉ nửa câu thôi cũng đủ. Ít ra, hai triệu người đã phải chết chi cuộc - chiến - tranh - như - mua - lầm - hơi ấy.

Có thể là ngày hôm nay, người ta không hề chờ đợi những lời thú nhận đó của McNamara. Vì thế, người ta đã bỏ qua cho ông ta một cách dễ dàng. Tất nhiên, trên báo chí Mỹ cũng có nhiều bài kịch liệt phản đối cuốn sách đáng ngờ của McNamara. Tuy nhiên, chẳng bao giờ chúng ta còn thấy lại phong trào mãnh liệt đấu tranh cho hòa bình hồi cuối những năm sáu mươi của thập kỷ này. Khi ấy, hàng trăm ngàn thanh niên đã xuống đườn biểu tình vì Việt Nam và công lý, hô vang tên Hồ Chí Minh; và khi ấy, những người xa lạ khoác tay nhau thề bảo vệ tình yêu, bảo vệ một thế giới tốt đẹp hơn. Tôi tự hỏi không biết Mc Namara còn nhớ nhữn điều đó hay không ? Hay chúng đã vuột khỏi trí nhớ của ông ta mất rồi ?

Có một lần, ông ta phải đứng giữa vòng rào bảo vệ. Khi đó người ta phát hiện ra ngài tổng thống yêu quý Lyndon B.Johnson của ông ta phạm tội giết hại trẻ con. Năm mươi ngàn người đã hô vang trước Lầu Năm Góc: “Này, này, L.B Johnson, hôm nay ngàu đã giết được bao nhiêu đứa trẻ rồi ?” Kết cục có thể thấy rõ như lòng bàn tay: dù Mỹ có thắng được trong cuộc chiến tranh Việt Nam thì cũng không thể nào thắng được công luận.

Nhà “lãnh đạo” vết thương Mỹ bản chất vẫn là một ông tướng như ai cũng biết. Trong bài phát biểu nhân dịp viếng thăm Béc-lin, ông ta thết lên trong micro như thể Việt Cộng đang đứng ngay ngoài cửa.

Lúc đó ông lão chỉ đơn giản muốn truyền đạt đến khán giả nhút nhát một bức thông điệp hoàn toàn vô hại. Trong mắt ong ta đó là một đề nghị hết sức sáng tạo. Nhà cách mạng McNamara kêu gọi: “Hãy loại trừ tất cả vũ khí hạt nhân!” Liếc nhìn người thông dịch, rồi ông ta lại gào lên, vừa buộc tội, vừa thuyết phục: “Và câu hỏi duy nhất của tôi hôm nay là, liệu có ai trong số các anh không đồng ý với lời kêu gọi của tôi không ?” Thấy chưa, ông tướng đâu có chờ đợi ai phản đối ông ta.

Ít có người dám phản đối ông ta: theo nguyên tắc này, ông ta không phải là nạn nhân mà cũng chẳng phải là người có lỗi. Giữ cương vị Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từ 1961 đến 1968, ông ta là người có quyền lực và sáng chói nhất dưới triều hai vị tổng hống John F.Kenedy và Lyndon B.Johnson.

Suốt một thời gian dài, mọi người chỉ bàn luận về cuộc chiến tranh của McNamara. Nhưng ngay cả vào năm 1967, khi nhà thiết kế cuộc chiến tranh đã hiểu ra rằng Goliah, gã khổng lồ, sẽ thua David, anh tí hon, ngày cũng đâu dám phản đối lại tổng thống của ngài. Ngài đã giải thích: “Kiểu trung thành như vậy là nhãn hiệu thương mại của tôi”. Liệu ngài có bao giờ nghĩ rằng còn có một lòng trung thành khác, lòng trung thành với nhân loại ?

Ông chủ của hãng xe hơi Ford, đại diện cho những thần đồng trẻ tuổi, tinh hoa trong những tinh hoa lãnh đạo, bao giờ cũng chỉ tin vào những con số và năng lực lý trí chứ không tin vào tình cảm.

Cụm từ “đếm xác chết” do ông ta chế tạo ra thực sự là đếm số xác chết của kẻ thù theo đúng nghĩa đen. Trong những chuyến bay thị sát từ Sài Gòn, ông ta đọc tiểu sử cac danh nhân, kể cả Paplo Picasso, trong khi chỉ vài giờ sau đó ông ta sẽ lạnh lùng đong đếm những tổn thất về người, vẻ bình thản cũng giống hệt như khi ông ta, trong vai trò ông chủ hãng xe hơi, tính toán việc sa thải hàng ngàn công nhân.

Kẻ đầy tớ tận tụy đã chấm dứt nhiệm vụ của mình trong nhục nhã. Năm 1968, tổng thống Johnson điều ông ta làm chủ tịch Ngân hàng Thế Giới (World Bank). Ngài chủ tịch nhận xét: “hắn ta là một lão thần kinh”. Còn McNamara lại nói: “tôi chưa bao giờ có ý định tự tử”.

Một cái đầu cứng rắn, một trái tim mềm yếu, một người luôn tính toán, một kẻ mê văn chương - tất cả những mâu thuẫn này chưa bao giờ làm phiền McNamara: “Một cái đầu cứng rắn và một trái tim mềm yếu không có gì là mâu thuẫn với nhau cả”. Sau tất cả, người ta thực sự bị sốc khi thấy những tính cách trái ngược này này cùng đồng thời tồn tại trong một con người.

“Có cái gì đó không ổn đối với ông ta:phong cách của ông ta gây được ấn tượng mạnh, toàn bộ tâm lực của ông ta là dành để thực thi nhiệm vụ, kẻ nào dám cản đường sẽ bị ông ta nuốt chửng... Ông ta mang trong mình mâu thuẫn phổ biến của thời đại đó:mâu thuẫn giữa những ý định tốt đẹp và khát vọng quyền lực”, David Halberstam, một trong những phóng viên chiến tranh đồng thời với thế hệ của Peter Arnett và Sheehan đã nhận xét như vậy về McNamara.

Với cuốn sách của mình, McNamara tin rằng ông ta có thể gấp chương sách nói về Việt Nam lại, cũng giống như một nhân viên kế toán kẻ một được gạch ngang từ trái qua phải dưới những cột số của mình.

“Hồi tưởng” sắp được bày bán ở Đức trong mùa sách sắp tới. Bìa sách trưng ra hình một McNamara đang nhe răng ra. Đó là nụ cười tính toán của một người chỉ muốn hiểu cuộc chiến tranh ấy theo lý trí, một cuộc chiến tranh trong thực tế đã đạt tới “tầm cỡ vĩ đại của Homer về nhiệt tâm và điên rồ” như tờ New York Times Book Review viết. Khi Robert S. McNamara rời khỏi Béc-lin lúc 7 giờ sáng ngày Chủ nhật, một người đàn ông thực sự không có trái tim đã chuồn mất.

(Nguồn: Tạp chí Thuốc & Sức khỏe số 70 ra ngày 15/6/1996)

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2006

Chuyện Tử Tế (phần cuối)

Người quay phim của bộ phim này, một lần đi tìm cảnh ở phố chợ đầu ô, tình cờ gặp lại một người mà thời ngồi trên ghế nhà trường, anh ta hằng kính trọng.


Đó là thầy chủ nhiệm Lê Văn Chiêu.


Cũng phải nói ngay rằng : Thầy Chiêu không bằng lòng cho quay những cảnh thầy bán rau. Lòng thầy trong sáng, thầy cho rằng như vậy là bôi bác chế độ.
Do vậy, những cảnh này, trò của thầy không dám bấm máy, mà nhờ một người khác quay lén. Thầy Chiêu đã nhiều năm gắn bó với ngôi trường này, trường phổ thông Tô Hiệu, huyện Thường Tín. Ở đây, thầy là giáo viên dạy toán giỏi, chuyện luyện cho các em ở cuối cấp đi thi.


Người học trò, cậu bé chăn vịt đểnh đoảng năm xưa, thì trở thành người quay phim.

Người thầy chủ nhiệm, giáo viên dạy toán giỏi, chẳng hiểu đã đi bán rau tự bao giờ.


Bây giờ thầy hiểu rau quả, thời vụ chẳng kém gì hiểu môn toán mà thầy đã yêu. Mùa rau rút, thầy bán rau rút – Mùa cà chua, thầy bán cà chua – Mùa rau muống, thầy bán rau muống.
Chuyện tình cờ, anh xích lô này được mời lên màn ảnh – Cùng một thời với người đạo diễn và biên kịch của bộ phim này, vào những năm đánh Mỹ ác liệt nhất ở miền Nam, vợ chồng anh có mặt ở chiến trường khu 5. Chị là bác sĩ – anh là chiến sĩ an ninh của khu ủy – Năm 1973, anh chuyển sang phái đoàn quân sự bốn bên – Và cuối cùng là vào chiến trường tây Nam.


Anh tên là Trần Thanh Hoài.

Ừ ! Con người ta, sau khi làm tròn bổn phận với Tổ Quốc thì cần phải kiếm sống. Đừng có công thần và mặc cảm. Kiếm sống bằng chính sức lao động của mình là điều trong sạch lắm chứ. Hoài cởi mở và tự tin vào nghề nghiệp hiện tại của mình.


Khác với thầy giáo Chiêu, có lần anh đã hồn nhiên hỏi chúng tôi :


- Này ! Tại sao phim ảnh, văn nghệ các ông không mấy khi lấy đám xích lô chúng mình nhỉ ?


- Thì chúng tôi đang quay phim ông đấy thôi !


Nói thế cho qua chuyện chứ, nghĩ ra cũng lạ.


Lạ vì, khi chúng ta chưa có chính quyền trong tay, thì nhân vật của văn nghệ chủ yếu là những người nghèo khổ : một bác phu xe, một bé bán báo, một bé đi ở, một bà mẹ nghèo, một tiếng rao đêm...


Ngày nay, khi quyền hành đã về một mối, thì những người nghèo khổ, bất hạnh trong văn nghệ bỗng dưng biến mất. Y như đồng bào của chúng ta bây giờ rất xa lạ với sự nghèo khổ, hoặc giả những người nghèo khổ đã chạy sang thế giới bên kia cả rồi. Ăn ở với nhau như vậy thì, không những chưa được tử tế cho lắm mà còn ... đáng sợ.


(Một người nói):Theo tôi, đáng sợ hơn chính là sự dốt nát. Loài người chưa có bộ luật nào xử lý tội dốt nát – Cũng chưa có một cơ quan thống kê nào tính đến những hậu quả do bệnh dốt nát gây ra – Mà suy cho đến cùng, thì mọi chuyện đau lòng của xã hội nếu có, to nhỏ đều bắt đầu từ sự dốt và nát. Tôi thấy không ai định nghĩa chuẩn hơn người sáng lập ra chủ nghĩa Cộng Sản khoa học :" Dốt nát là sức mạnh của ma quỷ "


(Một ông cao tuổi): - Nếu sa đà vào việc luận bàn về sự dốt nát và sự thông thái, tôi e rằng đó là chuyện muôn thuở. Người đời thường nói: “Phú quý sinh lễ nghĩa, Bần hàn sinh đạo tặc”. Có thể đó là vấn đề gần với chúng ta hơn – Khi đời sống vật chất tồi tệ, bất công, thì nhân tính bị xói mòn, thiện ác lẫn lộn.

Chống sự suy thoái trong đời sống, chính là chống sự xói mòn nhân tính.
Nếu nhân tính bị xói mòn, con người phải nói thật rằng : không phải trong hoàn cảnh nào cũng có thể sống tử tế và nghĩ ngợi những điều nghiêm chỉnh được đâu.


Bạn nghĩ gì về chữ "Hạnh Phúc" bán la liệt ở phố Hàng Mã ? Con người đã viết một tỷ cuốn sách để định nghĩa thế nào là Hạnh Phúc và tìm kiếm hạnh phúc.

Sinh thời Mác viết : "Hạnh phúc của một người là làm cho nhiều người được hạnh phúc". Trên lề đường của chúng ta, có rất nhiều người một thời đã hồn nhiên ý thức như vậy - Người chữa xe đạp bình thường này chẳng hạn.

Hãy theo ông ta, ông Trần Xuân Tiến về nhà tìm lại những kỷ niệm quý giá nhất của thời trai trẻ.

- Ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

- Vào giải phóng thủ đô năm 1954.

- Có mặt trong đại đội chủ công sư 308 tiến công đầu tiên vào cứ điểm Khe Sanh.

- Được tặng danh hiệu Dũng Sĩ diệt xe cơ giới – Tám lần bị thương.

Dũng sĩ Trần Xuân Tiến đã về già, có cháu nội, cháu ngoại – ông vẫn là người rất mực thật thà và tử tế. Một con người trên mình tám lần mang thương tích, không thể không nói đến nỗi đau thể xác. Nỗi đau thể xác, mối lo về miếng cơm manh áo hàng ngày – Có đấy ! Nhưng thật là nhỏ bé so với nỗi đau tâm hồn, những hiểu biết, nghĩ suy về họ mạc, đất nước, đồng bào.

Từ xa xưa, con người đã luân bàn về Hạnh Phúc. Héraclite, một triết gia cổ Hy Lạp (500 năm, trước Công nguyên) viết : " Nếu hạnh phúc là sự thoả mãn vật chất thì chúng ta có thể coi con bò là Hạnh Phúc".

(Một bà cao niên): Hạnh phúc của một loài bò sát : Con kỳ nhông – là khi nằm trên lá khô, nó có màu nâu – Khi trườn trên lá tươi, nó có màu lục – Và nhất là biết cách băng qua đám lửa cháy mà không hề bị xây xát. Có những con người giống như loài kỳ nhông : họ vòng vo tinh khôn và chẳng bao giờ bộc lộ cái gì có thể phương hại đến bản thân mình.Chúng ta còn khốn đốn, nếu nhiều người không thật, nhiều điều không thật, nhiều sự việc không được gọi bằng đúng cái tên của nó.

(Một ông cao niên): Cũng chẳng thể khốn đốn mãi được - rất nhiều người và tôi – chúng tôi tin tưỏng một cách sâu sắc, chắc chắn rằng : Dù đông tây, kim cổ thì đạo lý, sự tử tế bao giờ cũng trường tồn, bất biến. Nó luôn luôn có mặt trong đời sống của chúng ta - thiếu hẳn nó thì chúng ta không còn là con người nữa. Một dân tộc, một xã hội dù ở bước vong nô thì sự tử tế, sự hoàn thiện vẫn là cái đích để tập hợp, là tia sáng để vươn tới.

(Cụ già):- Tôi cũng tâm niệm như vậy, nhưng tôi e rằng : khi vươn tới một sự hoàn thiện, sự tử tế như mong muốn, thì tiếc thay, cánh già chúng ta đã rủ nhau sang thế giới bên kia cả rồi. Và cuối cùng thì sau một cuộc đời tử tế hoặc không tử tế, dài lâu hoặc ngắn ngủi, mọi người đều được tạo hoá cho một cái quyền bình đẳng là : Trở về với Đất.

Có người cứ nói bừa rằng : Chết là hết. Nhưng thực ra, chết và con đường đi đến cái chết cũng nhiều chuyện lắm. Ví như trong đám có giọng thành kính xót thương : "Tiếc thay, ông ta là một người ăn ở tử tế" hoặc bật ra "Hừm, cái lão chúa xu thời".

Có lẽ chẳng mấy ai biết lắm chuyện về những người chết bằng người đào mồ. Âu cũng là một dịp để làm quen. Cái công việc nắng mưa, nặng nhọc này, đôi khi bị coi là tận cùng của xã hội, lại cần cho bất cứ ai. Cho ông, cho bà, cho tôi và cho tất cả". Và không hiểu, bởi một lý do gì, chúng ta thiếu đi một tấm lòng cần thiết đối với họ.

Người đào mồ gửi vào đất cả quan chức lẫn thường dân, cả nhà học giả và thằng vô lại – Có điều, người ta trở về với đất trong những hoàn cảnh khác nhau, bằng những con đường khác nhau, mang theo mồ những điều thiện và ác khác nhau.
Nhân đây cũng nói thêm rằng : người tử tế ai cũng mong muốn trông thấy đồng loại của mình có mồ yên, mả đẹp – vì mồ yên mả đẹp an ủi được con người.

Nhưng mong muốn hơn là an ủi được con người hơn vẫn là sự tử tế, là tình thương yêu, là công đức của người quá cố để lại cho đời. Đừng để rồi mai mốt, mang theo xuống mồ một nỗi buồn có thể to hơn cả phần mộ của mình.

Cùng với người đào mồ có nên nghĩ ngợi rằng : Làm sao, để khi từ giã thế giới, ta không chỉ nằm xuống như một người tử tế, mà điều quan trọng là ta có thể từ giã một thế giới tử tế hơn, trong đó con người được chăm lo hơn.

Vậy ra, nghĩ cho đến cùng, ở trên đời này, không có một nghề nghiệp nào, không có một công việc gì, và cũng không có một con người nào trở nên tử tế - Nếu không bắt đầu bằng tình thương yêu con người, sự trân trọng đối với con người và đi từ nỗi đau của con người.
Khi bấm những cảnh cuối cùng của bộ phim này, người trông coi mồ mả, giám đốc các nghĩa trang Hà-Nội – cháu gọi nhà văn Ngô Tất Tố là bác, đã chép miệng bảo chúng tôi rằng : "Rõ chán, chuyện các anh cũ như trái đất. Tôi ở với người chết đã lâu, tôi thấy có cái hay là họ chẳng thèm tranh cãi với ai bao giờ. Dĩ nhiên, nếu họ có thể tham gia tranh cãi, thì ối điều phải bác bỏ - kể cả tôi là người quản lý họ và cả cái phim mà các anh đang làm".


Vâng !

Thì có gì mới đâu và có dám tranh cãi gì đâu – khi mà ở đây, trong cái nghĩa trang bình dân này, có mặt rất đông những người giỏi chữ nghĩa : Cụ Nguyễn Huy Tưởng, cụ Vũ Ngọc Phan, cụ Xuân Diệu, cụ Nguyễn Tuân....và nhiều cụ khác.


Có dám tranh cãi với ai đâu và có gì mới đâu, chỉ thương người bạn đồng nghiệp xấu số, lúc sống và lúc chết đều vui lòng để chúng tôi quay phim - Nỗi bất hạnh to lớn trong quá khứ của gia đình cậu ta kể ra ở đây, không tiện - Vậy mà, vẫn đùa bỡn cho đến lời cuối. Cậu ta bảo rằng : " Tớ rất muốn sống, để xem các phim của các cậu làm về cái chết của tớ như thế nào ?"


" Trải qua một thời gian dài, rất dài. Chúng tôi mới nghiệm ra rằng : Để thấu hiểu nỗi đau của người khác, không phải là một việc dễ dàng gì". Vâng ! Không thể là một việc dễ dàng gì, nhất là, khi ta không sống cuộc sống của người đời. Chỉ có sống cuộc sống của người đời, chia sẻ những nỗi buồn và niềm vui của người đời thì may ra tìm được, hiểu được, nghĩ được và làm đúng được đôi điều.


Nhưng, cũng như chuyện, ít có mấy ai lại lẩm cẩm từ chối một cuộc sống đầy đủ hơn, quyền thế hơn để sống cuộc sống như mọi người – Cái nghịch lý là ở chỗ đó và, cuối cùng, dù nhọc lòng, mất công, những điều chúng tôi, những người làm phim biết được chỉ bằng giọt nước ; còn những điều chưa biết lại là biển cả.


Đến đây mới nhận ra rằng, ở bộ phim này quá lạm dụng lời các danh nhân. Lời bình do những người làm phim viết ra, rất có thể là những điều vớ vẩn, tầm phào, làm mệt lòng người duyệt kỹ tính.


Còn lời các danh nhân thì thực yên tâm. Đó là chân lý, là danh ngôn – Vì vậy, trộm nghĩ cũng nên thay chữ "Hết" của bộ phim nhỏ bé này bằng việc nói thêm rằng, cái câu nói nóng nảy, táo tợn : “Tất nhiên, chỉ có loài súc vật mới có thể quay lưng lại nỗi đau khổ của con người, và chăm lo riêng cho bộ da của mình...”

May thay là của Các Mác tôn kính, chứ không phải là của bạn tôi.

Trần Văn Thủy

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2006

Chuyện Tử Tế (tiếp theo)


Đồ hủi.

Xấu như hủi.

Bẩn như hủi.

Lười như hủi.

Không dây với hủi.

Cũng là để hiểu những người mắc bệnh phong - mà người đời vẫn gọi là người hủi – ăn ở với nhau ra sao, chúng tôi đã gặp vài ba cảnh đời thiết nghĩ cũng nên kể lại.

Cháu có tên là Tú Anh. Nhưng bà bảo cái tên Tú Anh nó Hà Nội quá, mình thì người nhà quê, bố cháu là Chiện, bà gọi cháu là Chiền. Thằng Chiền một thời ít bạn vì tiếng đồn khắp vùng mẹ nó là người hủi. Mẹ nó là người hủi thì bố nó bỏ đi luôn. Mẹ nó – chị Nguyễn Thị Hằng - phải bỏ quê lang thang bờ bụi. Kiếm được đồng tiền bát gạo, đêm đêm chị lần mò mang về cho nó. Nỗi đau thể xác và nhất là sự sỉ nhục về tinh thần đã đẩy chị tới một quyết định – phải tự vẫn. Nhưng còn thằng Chiền ? Thằng Chiền phải có một nếp nhà trước khi mẹ nó qua đời. Vậy là, đêm chị lần về và bằng hai bàn tay cùi cụt co quắp không đủ ngón đốt, đã đóng 18.000 viên gạch. Hỡi những người lành mạnh và tử tế! 18.000 viên gạch, đêm, lạnh buốt và đau đớn. Khi ngôi nhà đã dần hình thành, mẹ thằng Chiền – một người hủi – còn có một ước vọng rất thơ mộng là viết để lại cho con những dòng thơ tâm sự. Sổ thơ của “người hủi” có cả ảnh và thơ của Alexander Bloch, chữ viết của người hủi có bao giờ thẳng hàng:

“Túp lều nát rùng mình trong gió rét

Chiếc nôi nghèo run rẩy giữa đêm đông

Ôi cái rét giá của đêm dài cô quạnh

Của những phần xương thịt rất đau

Bố bỏ đi biệt xứ chẳng một lời

Thế là hết chẳng còn ai chăm sóc con ư ?

Tội nghiệp cho Tú Anh cái tên trong sáng

Như chim non bé bỏng mồ côi.

Mẹ nghĩ phải gắng sống, sống vì con

Gắng làm cho con một nếp nhà xinh

Đó là nếp nhà mẹ chịu nắng sương

Chịu cái rét giá của đêm dài cô quạnh.”

Tạo hóa bao giờ cũng có nhân có quả. Mẹ thằng Chiền đã được các thầy thuốc tận tình cứu chữa và đã qua khỏi. Nhiều lần dắt con đi bên bờ sông Trà Lý, nhắc đến tên các thầy thuốc đã chạy chữa cho mình, chị đã khóc.

Nhiều đồng nghiệp của tôi và tôi nghĩ ngợi: Thế là mình đã dành gần toàn bộ cuộc đời cho nghề thầy thuốc. Trải qua một thời gian dài, rất dài chúng tôi mới chiêm nghiệm được một điều rằng: “Để thấu hiểu nỗi đau của con người không phải là một việc dễ dàng gì”. Lần tìm truyện về những người phong, cũng nên đến trại điều trị phong Quy Hòa. Ở đây chúng tôi gặp mặt đông đảo các thầy thuốc, câu hỏi của chúng tôi: “Thưa các thầy thuốc, ai là người tận tân chạy chữa, chia sẻ với người phong ạ ?”

- Các bà xơ, chuyện đó phải kể đến các bà xơ. Các thầy thuốc, trong đó có các thầy thuốc từ khi rời ghế Trường Y cho đến bây giờ đã hai thứ tóc làm việc ở các trại phong đều trả lời chúng tôi như vậy. Các xơ cao tuổi rất biết về Hàn Mặc Tử - một thi sĩ thời tiền chiến lâm bệnh hủi đã qua đời tại đây gần nửa thế kỷ trước. Các xơ kể rằng, thời Hàn có hai điều các xơ để tâm: thứ nhất là thời ấy, do thiếu hiểu biết người ta thật tàn bạo với người phong; thứ hai là khi Hàn lâm bệnh rất nhiều người xa kẻ gần kiếm thuốc tìm thầy chạy chữa cho Hàn rất công phu, tốn kém. Nhưng điều đáng nghĩ ngợi là phần lớn họ đều giấu tên để Hàn khỏi mang ơn. Xem vậy thì thời Hàn cũng có những người ăn ở với nhau đến là TỬ TẾ. Gặp các xơ, chúng tôi chợt nhớ lại lời thề Hypocrate treo ở giảng đường Viện Da Liễu: “Tôi xin hứa và thế nhất luật tuân theo những ước lệ của tính thanh cao và lòng chính trực trong khi hành nghề. Tôi sẽ chữa bệnh không lấy tiền cho những người nghèo khó và không bao giờ đòi hỏi thù lao quá với công sức của mình.Tôi chỉ mong mọi người dạy cho lòng quý mến nếu tôi làm đúng lời thề....”. Lời thề Hypocrate là một lời thề TỬ TẾ. Từ lâu lắm, loài người đã cố tìm những lời đích thật để thề, thề vì con người, vì lòng tin và sự đau khổ của con người dần xa lánh những lời thề vu vơ. Chúng tôi hỏi: “Thưa, đâu là nơi bắt đầu để các xơ yên tâm, tận tụy phục vụ người mắc bệnh phong ạ ?”.“Dạ, chỗ bắt đầu của chúng tôi và đồng nghiệp là lòng tin”. Vâng, nếu không có lòng tin thì con người không thể sống với con người được. Con người đã từ lòng tin thần thánh, lòng tin tôn giáo mà đến với lòng tin có chứng cứ. Tin vào những cái đích thật.

“Lòng tin vốn tự nhiên và mãnh liệt. Lòng tin vốn không thể vay mượn, áp đặt hoặc tước đoạt. Mất lòng tin là mất tất cả. Bi kịch lớn nhất chưa hẳn là do nghèo túng mà là do mất lòng tin. Khi con người không tìm ra cái đích thật để mà tin. Khi giữa cuộc đời và thuyết giáo lại là một khoảng cách quá xa”.

Có muôn vàn ví dụ. Trước ngưỡng cửa cuộc đời những đứa trẻ thơ ngây được chúng ta dạy rằng: “Các em yêu quý, các em là những đứa trẻ hạnh phúc, vì các em là con Hồng cháu Lạc. Giang sơn của các em là gấm vóc, thiên nhiên ưu đãi, tài nguyên giầu có, tiền rừng, bạc biển.”. Cũng ở một lớp học như vậy ở nước Nhật thì người ta dạy con em người ta rằng: “Các bạn nhỏ yêu quý, các bạn là những đứa trẻ bất hạnh. Bất hạnh bởi các bạn sinh ra ở một đất nước hoàn toàn không có tài nguyên, không hề được thiên nhiên ưu đãi, một đất nước đã từng thua cuộc trong chiến tranh. Gương mặt của đất nước này, tương lai của các bạn là trong tay các bạn.” . Giá như một lần chúng ta dạy con em rằng: “Các em ạ, cái nhục của sự nghèo khổ cũng chẳng kém gì cái nhục của sự mất nước. Đừng nghe những lời tâng bốc hão huyền, vì các em ạ, bi kịch và cả hài kịch thường xảy ra ở bất cứ đâu khi giữa cuộc đời và thuyết giáo là một khoảng cách quá xa.

- (Phỏng vấn một nhóm học sinh đang dán băng rôn có chữ “Vĩ Đại”): Chào các em, theo các em thì xung quanh chúng ta cái gì là vĩ đại ?

- Cháu chịu.

- Nào em ?

- Vĩ đại thì cháu nói thật là cháu chỉ được nghe chứ cháu chưa bao giờ được nhìn thấy.

- Thế thì theo các chú cái gì là vĩ đại cơ ạ ?

- (Một thầy giáo trả lời): Theo tôi, thì vĩ đại, vĩ đại nhất đã được tạo dựng nên trên trái đất này là con người. Chính là con người.

- (Một cô giáo già trả lời phỏng vấn): Nhưng tạo hóa đã không sinh ra một loài sinh vật nào chịu nhiều đau khổ hơn con người và khát khao sự TỬ TÊ hơn con người.

Thật vậy ! Một nhà văn từng viết : "Con người là một sinh vật không bao giờ chịu sống thúc thủ. Nó luôn luôn muốn vươn tới cái tuyệt vời, cái vô biên, cái vĩnh cửu là những mục tiêu mà mãi mãi không bao giờ đạt tới".


Còn cuộc đời thì biến động, chẳng bao giờ chờ đợi ... con người.

(Còn tiếp một phần nữa)

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2006

Chuyện Tử Tế


Tôi đã xem "Chuyện tử tế" đến 3,4 lần nhưng không hiểu sao vẫn cứ bị ám ảnh bởi những lời bình trong phim, con người sống với nhau cho "tử tế" mà sao khó đến vậy ? Khoa học kỹ thuật đã có những bước tiến dài nhưng dường như cái đối nhân xử thế giữa con người với con người vẫn chẳng chịu nhấc chân. Cuộc sống hiện đại với nhịp sống nhanh và gấp gáp làm cho con người ta quên đi những ứng xử của con người. Chép lại lời bình của bộ phim tài liệu này, tôi chỉ muốn tự nhắc nhở mình hãy sống chậm lại, hãy nhìn con người với đôi mắt và tình cảm của một con người.

Lời đầu phim:

Có lần tranh luận về việc làm phim, bạn tôi bực mình mắng tôi một câu nghe rất lạ tai: “Tất nhiên chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại với đau khổ của con người mà chăm lo riêng cho bộ da của mình”. Chữ nghĩa đến là nóng nảy và táo tợn. Tôi ngờ rằng lời lẽ ấy, bạn tôi đã vay mượn ở đâu đó.

Người biên tập bộ phim này cho hay, từ rất xa xưa cha bác có dạy rằng: “Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia, bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn, đầu tiên vào việc học làm người – người tử tế. Trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành, giỏi giang hoặc siêu phàm.”

Hôm nay, 20/4 âm lịch, ngày giỗ đầu một bạn đồng nghiệp của chúng tôi. Cũng không hiểu sao, đồng nghiệp của chúng tôi qua đời trong những năm qua phần đông đều do một căn bệnh hiểm nghèo – bệnh ung thư. Nhà quay phim Nguyễn Quý Nghĩa, Nguyễn Quang Trịnh, nhà biên kịch Quang Minh, đạo diễn Tô Cương, nhà quay phim Phan Trọng Quỳ, đạo diễn Trần Thịnh, đạo diễn Xuân Thành và bây giờ là Đồng Xuân Thuyết nữa.

Chúng tôi đã theo Thuyết gần 02 năm trước khi anh qua đời. Vào những giờ phút cuối, anh bình thản nói: Tớ mắc căn bệnh khá là hiểm nghèo,sau những cơn đau xé ruột những lúc tỉnh táo mình đọc và cảm thấy rất thích cuốn sách này. Tớ đọc các cậu nghe một đoạn nhé: “Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác, nó nặng đến nỗi một người không mang nổi. Bởi thế, người đời chúng ta chừng nào còn sống hãy gắng giúp nhau để cho tâm hồn trở nên bất tử. Ông giúp cho tâm hồn tôi sống mãi, tôi giúp cho người khác, người ấy lại giúp cho người khác nữa và cứ như thế cho đến vô cùng. Sao cho cái chết của một con người không đẩy chúng ta vào tình trạng cô đơn trong cuộc sống”. Các cậu thấy có lạ không ?

“Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác, nó nặng đến nỗi một người không mang nổi. Bởi thế, người đời chúng ta chừng nào còn sống hãy gắng giúp nhau để cho tâm hồn trở nên bất tử. Ông giúp cho tâm hồn tôi sống mãi, tôi giúp cho người khác, người ấy lại giúp cho người khác nữa và cứ như thế cho đến vô cùng. Sao cho cái chết của một con người không đẩy chúng ta vào tình trạng cô đơn trong cuộc sống”

Nếu khỏe mà về với các cậu thì vui như Tết, còn nếu có điều gì bất hạnh thì cũng chẳng có điều gì đáng ân hận lắm, vì khi còn sống chúng mình ăn ở với nhau rất là TỬ TẾ đấy chứ !

- Thế lỡ chẳng may thì cậu có giối giăng gì không ?

- Giối giăng thì có lẽ nhiều việc quá rồi thì cũng quên hết thôi. À này, mình cứ nghĩ là các cậu nên làm với nhau một điều gì đó. Nó có thể bắt đầu từ tình thương yêu con người chăng ? Hoặc là đi từ nỗi đau của con người ?

- Khó đấy.

- Khó cũng phải làm. Còn nếu không làm, các cậu mà vô tích sự, tớ đi trước tớ sẽ kéo các cậu theo sau đấy.

Cũng chẳng có điều gì đáng ân hận lắm, vì khi còn sống chúng mình ăn ở với nhau rất là TỬ TẾ. Tớ cứ nghĩ các cậu nên làm với nhau một cái gì đấy, một cái gì đấy bắt đầu từ tình thương yêu con người, đi từ nỗi đau của con người.

Không có gì thành thật bằng lời nói của người sắp qua đời. Từ đấy chúng tôi định bụng rủ nhau đi làm một "bộ phim tử tế", tử tế dù là tương đối.

Nhưng việc có lẽ không thành bởi một hôm chẳng rõ vì đâu người làm gạch bất bình săm săm chạy ra xua đuổi chúng tôi té tát. “Xin các ông đi chỗ khác cho chúng tôi nhờ, không có quay quắt gì ở cái lò gạch của tôi sất cả. Chán cái đám phim ảnh các ông lắm rồi. Có giỏi thì cứ chụp cái cảnh chúng tôi sống thật như thế nào đi. Cứ bày đặt ra mãi thế mà không thấy ngượng hả ? Không thấy ngượng hả ?”. Cũng có lúc ngượng lắm chứ hỡi cái ông có cái lò gạch. Người xưa từng nói: “Lập thân tối hạ kỵ văn chương”, nghĩa là lập thân bằng cái nghề văn chương nghệ thuật là cái nghề thấp kém, hèn mọn nhất. Ừ, nghề của chúng tôi cũng là một nghề hèn, nghề mọn. Hèn vì nghĩ nhiều mà không dám nói ra; Mọn vì cái làm ra cũng chẳng mấy ai cần đến. Ông có cái lò gạch đâu có biết, bấy lâu nay chúng tôi mắc phải một thói quen cố hữu, chỉ mong sao làm vừa lòng bề trên. Một cuốn sách, một vở diễn, một bộ phim ra đời đâu có mấy phụ thuộc vào sự hữu hiệu của nó với cuộc đời, lại chẳng mấy phụ thuộc vào mong muốn của những người lam lũ như ông mà thường nhất nhất trông đợi ở sự xem xét của bề trên chúng tôi. Bề trên chúng tôi bằng lòng thì được, không bằng lòng ắt phải bỏ. Bề trên của chúng tôi khen thì chúng tôi sung sướng. Bề trên chúng tôi chê thì chúng tôi buồn rầu.

Ngay cái chuyện vào nghề của người quay phim bộ phim này tuy cũ nhưng cũng còn là một thí dụ hay đấy. Thời niên thiếu, anh ta ở nhà quê đi chăn vịt. Cái nghề chăn vịt nào có hứng thú gì. Một trưa hè, mệt quá, anh ta chui bừa vào một cái lều để ngủ. Lũ vịt vô kỷ luật đã sục vào ruộng của Hợp tác. Các bác ở Ủy ban xã giận lắm liền ghi chuyện đó vào lý lịch. Bên cạnh 04 chữ ký của các bác ở Ủy ban xã có cả xác nhận của Huyện và hai chữ “TỐI MẬT”. Thế là đằng đẵng nhiều năm không thể thi vào bất kỳ một trường nào, một ngành nào mà anh ta vẫn mộng mơ. Mãi sau tình cờ có 01 lớp quay phim, anh ta thi đại vào. Vậy là, nghề chăn vịt với nghề làm phim như chúng tôi cũng chỉ cách nhau có gang tấc.

“Xin các ông đi chỗ khác cho chúng tôi nhờ, không có quay quắt gì ở cái lò gạch của tôi cả”. Gã có cái lò gạch xua đuổi chúng tôi là hắn bậy rồi, chúng tôi ít ra cũng là người của Nhà nước. “Có giỏi thì cứ chụp cái cảnh chúng tôi sống thật như thế nào đi. Cứ bày đặt ra mãi thế mà các ông không thấy ngượng hả ? Hình như hắn có cái lý của hắn. Đến như bọn trẻ con đã có lần toét miệng cười và bảo chúng tôi rằng: “À, các chú quay cái loại phim này, chúng cháu xem là chúng cháu hay buồn ngủ lắm đấy!” . Đâu phải thế ! Chúng tôi từng làm hàng trăm bộ phim nhân dân chiến đấu anh hùng như thế nào, nhân dân quyết tâm sản xuất như thế nào, nhân dân phấn khởi tin tưởng như thế nào....Những bộ phim đó đã đi vào lịch sử và một thời đã mang lại vinh quang cho chúng tôi.

Nhưng phải nhận rằng: Chẳng có mấy bộ phim miêu tả nhân dân ăn ra sao, nhân dân ở ra sao, nhân dân đi lại sinh sống như thế nào và nhất là nhân dân nghĩ ngợi bàn tán những gì. NHÂN DÂN, hai tiếng thật thiêng liêng. Chẳng thế mà NHÂN DÂN có mặt ở khắp nơi, về văn hóa thì có: Nghệ sỹ Nhân dân, hiệu sách Nhân dân, giáo viên Nhân dân, nhà hát Nhân dân, báo Nhân dân; Ở những cơ quan nghiêm mật thì có: Hội đồng nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Tòa án Nhân dân, Viện kiểm sát Nhân dân, Công an Nhân dân, Quân đội Nhân dân....Một thời chúng ta đã có những lời ca về nhân dân thực sự xúc động lòng người: “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”, “Anh em ơi vì nhân dân quên mình”...nhiều khẩu hiệu đã trở thành tâm niệm của một lớp người “Phục vụ nhân dân”, “Đầy tớ nhân dân” và cao hơn nữa là “Hiếu với dân”.

- Trung với Đảng với nước thì đã rõ, còn nội dung cụ thể của “Hiếu với dân” theo anh là gì? (Hỏi một chiến sỹ bộ đội trẻ).

- Cái này, tôi phải nghĩ một tí. Nhưng anh hỏi để làm gì ?

Cứ nghĩ như “Con có hiếu với cha” chẳng hạn, chăm sóc cha lúc tuổi gia, phụng dưỡng cha lúc ốm đau, thờ phụng cha khi qua đời, kế tục những hoài bão mong mỏi của cha còn dang dở. ..Hiếu phải đi đôi với thảo, không thể đẩy cha mẹ ra lề đường kiếm sống mà lại cứ tự xưng rằng “tôi là đứa con có hiếu”. Còn như đạt tới sự hiếu thảo với nhân dân thì ý nghĩa và nhân quả của nó còn to lớn hơn nhiều. Cụ Hồ có căn dặn rằng: “Bất kỳ địa vị nào, làm công tác gì chúng ta đều là đầy tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân”. Người có lương tâm đều hiểu, không phải lúc nào và ở đâu nhân dân cũng đã được đền bù xứng đàng. Có thể vì vậy mà ông lò gạch đã đối xử với chúng tôi – những người của Nhà nước – chưa được mặn mà, tử tế cho lắm.

(Phỏng vấn 1 nam người trẻ tuổi): - Chào anh. Theo anh thế nào là sự tử tế ?

- Chịu. Thế nào là sự tử tế bây giờ là khó lắm đấy!

(Phỏng vấn một nữ trung niên): - Ý chị thế nào ạ ?

- Có được phép nói thật không ạ ?

- Xin mời.

- Vâng. Người được mình coi là tử tế thì theo tôi trên thực tế mình nhờ vả một cái gì đó về quyền lực hay là vật chất. Chữ “tử tế” thì thường ở miệng những người có tuổi hoặc những người hơi xưa. Bây giờ thì bận lắm, mấy ai có thì giờ để luận bàn những chuyện xa xôi ấy.

- (Một người bố trẻ tuổi trả lời phỏng vấn): Xung quanh ta có nhiều người tử tế lắm chứ. Những người tử tế là người nhân hậu, thương yêu con người, ham làm điều thiện, lo việc công ích chứ không vì chức vụ hay bổng lộc. Theo tôi, những người bất hạnh, người cô đơn, người nghèo khó và nhất là người trung thực họ chính là người mong mỏi có sự tử tế hơn ai cả.

- (Một anh lái xe trung niên trả lời phỏng vấn): Đây là một câu hỏi lẩm cẩm. Tử tế à ? Các ông thử nghĩ mà xem, người cần sự cứu giúp thì gặp kẻ muốn ban ơn thế là thành sự tử tế. Người sa cơ lỡ vận gặp kẻ cần tiếng thơm để toan tính những việc xa hơn cũng thành người tử tế. Tử tế là một cái gì đó tế nhị, có đi có lại

- (Một cụ già trả lời phỏng vấn): Tử tế các đồng chí làm phim thân mến ạ. Hai cái chữ đó là gốc từ chữ Hán, chữ “Tử” là việc nhỏ nhất, mà “Tế” là cái điều nhỏ nhất. Hai chữ tử tế cộng chung lại nó có nghĩa là “cẩn thận từ cái việc nhỏ nhất”. Vì chữ tử tế chúng ta hiểu lâu ngày nó sai đi, nó khác đi. Cái tử tế thật sự không thể có tiền mà mua được, không thể mong ước mà có được. Nó phải qua cái học hành, cái rèn luyện, cái giữ gìn, cái kế thừa mà có. Tử tế là bông hoa thơm, bông hoa đẹp của tình người.

- (Một cô gái trẻ trả lời phỏng vấn): Ăn ở với nhau tử tế là lẽ thường tình, là niềm an ủi của người đời. Chỉ có đồ hủi mới ăn ở với nhau chẳng ra gì.

(Còn tiếp)



Thứ Năm, 7 tháng 12, 2006

Lại thơ của vợ...híc híc!


Vô Đề 2

hôm qua mang áo đi giặt

THẤY TRONG TUÍ ÁO CỦA ANH/????

một mảnh giấy gấp làm tư

“Anh yêu, nhớ anh lắm đấy!”

Nét chữ dường như run rẩy

Nét chữ dường như dỗi hờn

Vuốt ve phẳng phiu mảnh giấy

Để vào ngăn kéo bàn anh

áo giặt là xong sạch sẽ

Treo lên trên mắc sẵn sàng

Chỉ có trái tim người vợ

Trống hoang

Một nỗi bẽ bàng

Mảnh giấy chẳng hề có lỗi

Chiếc áo cùng không có tội

chỉ có trái tim con người

chỉ có tình yêu dễ vỡ

trước những đổi thay bất ngờ.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2006

VÔ ĐỀ


VÔ ĐỀ


thời gian

ngưng lại

người đàn bà

héo mòn

TRONG NGÔI NHÀ HẠNH PHÚC

người đàn bà

GIƠ TAY

DỐC

THỜI GIAN

VÀO CỐC

ngửa cổ

NGOÀI KIA SÁNG HAY TỐI

NGOÀI KIA NGÀY HAY ĐÊM

NGƯỜI ĐÀN BÀ MẢI MIẾT

CÙNG THỜI GIAN TRỐN TÌM

NẮNG, MƯA CÙNG SÁNG TỐI

ĐÊM

NGÀY SẮP SANG

THỜI GIAN NƠI ĐÁY CỐC

CHỈ CÒN NGÀY HÔM QUA./.

(Mở ngoặc nói rõ hơn: Đây là thơ của vợ Image)