Thứ Ba, 18 tháng 5, 2010

Đạo đức giả

Gần đây báo chí Việt Nam đã lên tiếng với một số ca đạo đức giả trong giới trí thức, vụ việc nổi bật nhất có lẽ là “đạo sách, đạo văn” của GSTS Trần Ngọc Thơ được báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ Tp.HCM nêu đích danh. Trước đó ông này đã rất cao đạo lên giọng dạy đời và “mắng” một chị khác “đạo sách, đạo văn” của mình. Việc báo chí phản ánh những vụ việc như vậy tớ cho là cần thiết là nhằm cảnh báo cho các bậc “trí ngủ” nhà ta rằng không phải dân ai cũng ngu không biết các cụ ấy đang làm trò khỉ với cái danh hão.

Nhưng làng báo cũng có vài tờ đạo đức giả chả kém gì các bậc “trí ngủ" ở trên. Xét dưới góc độ số lượng thì một tờ báo đạo đức giả còn nguy hiểm gấp ngàn lần 01 anh “trí ngủ". Xin ví dụ rất cụ thể với một trường hợp điển hình: Viet Nam Net. Với giọng cao và thanh thoát tờ báo lên giọng dạy đời qua bài viết “Nhiễm độc văn hóa và 'tư duy con khỉ'” khi cho rằng: Sau một thời gian dài nằm yên trong kỉ luật, có lẽ sự tự do đã làm cho chúng ta đi quá đà trong nhiều vấn đề về văn hóa và lối sống. Một trong những ví dụ điển hình nhất là sex... Không phải cứ có sex là xấu, là bị dư luận lên án; tiểu thuyết "Rừng Na-uy" của Murakami là một điển hình. Nhưng sex trong một tác phẩm chân chính là những tình tiết tự nhiên, được xử lý tinh tế và mang lại những dụng ý nghệ thuật hẳn hoi, chứ không phải là được cắm bậy bạ đâu đó vào câu chuyện để câu khách một cách rẻ tiền...

Cũng chính tờ báo Viet Nam Net trong cùng ngày lại đăng một clip với tựa đề “Giao thông kiểu 'nảy tưng tưng'?” với nội dung phản ánh việc đắp “lươn”, “trạch” trên đường giao thông ở Hà Nội đã gây ra cảnh tượng mông và ngực phụ nữ bầm dập. Thật hết sức lố bịch và vô văn hóa khi phản ánh hiện tượng trên bằng một phóng sự truyền hình với những “cận cảnh” vào ngực của phụ nữ đi trên đường. Thực sự không còn lời nào để bình luận với những gì mà Viet Nam Net đã làm. Một mặt thì cao giọng dạy đời, mặt khác thì chính Ban biên tập lại đăng 01 bài hết sức vô văn hóa. Trên cùng một tờ báo mà có 02 bài viết hoàn toàn trái ngược nhau như vậy thì chắc rằng sẽ không khỏi khiến người đọc nghĩ đến một đội ngũ ban biên tập và lãnh đạo hoàn toàn thiếu năng lực chuyên môn và....đạo đức giả.

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2010

Lê Chiêu Thống thời nay?

Báo Tuổi Trẻ Tp.HCM ngày 27/5/2009 đăng bài "Rừng nghèo" của tác giả là TS. Nguyễn Chí Thành (nguyên phân viện trưởng Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam bộ). Dưới góc nhìn của một bạn đọc bình thường tớ chẳng thể nào phát hiện ra những vấn đề chuyên môn được "gài" trong bài viết này, thế nhưng dưới góc độ của một người làm trong lĩnh vực chuyên môn sâu về "Chi trả dịch vụ môi trường" thì một người em tớ đã phát hiện ra những vấn đề khá tế nhị. Nhận thấy vấn đề khá hay, tớ đã đề nghị em nó note lại những vấn đề ấy và nay xin trích những ý kiến của em nó ở dưới đây:

Về bài viết nói về rừng nghèo thì đúng là tiếp tay cho bọn bán nước. Đồng ý rằng rừng nghèo thì cần phải cải thiện để rừng trở nên xanh tươi hơn, tốt tươi hơn nhưng theo như lập luận của lão ấy thì phải chuyển đổi mục đích sử dụng, cho tư nhân và hộ cá thể được mua đất đó và làm. Điều này thể hiện sự thiếu kinh nghiệm và thực tế của lão ấy ở những điểm sau:
1. Việc phân loại rừng giàu, rừng trung bình và rừng ở VN phần nhiều là cảm tính và chưa chắc đã đúng với thực tế tầm quan trọng của cánh rừng đó. Anh bảo nó là rừng nghèo vì có ít cây nhưng rất có thể ở cánh rừng đó các thảm cây bụi lại cung cấp môi trường sống cho nhiều loại động vật quý hiếm. Bản thân các loài cây bụi đó có giá trị về mặt sinh thái và là chuỗi thức ăn cho rất nhiều loài. Tiêu chí thế nào là rừng nghèo và cách thức phân loại rừng nghèo hoàn toàn rất chủ quan, và có thể thay đổi theo từng thời kì và quan điểm của các vị lãnh đạo.
2. Việc lão ta đề xuất cho dân, tư nhân vào đấu thầu đúng là ngu si bán nước. Thứ nhất vì thực tế cho thấy tư nhân vào mua đất chủ yếu cắm sổ đỏ vay tiền ngân hàng hoặc sẽ chuyển hóa hết từ rừng tự nhiên thành rừng trồng để kinh doanh. Độ đa dạng sinh học từ đấy sẽ biến mất hehee. Thứ 2, Quan trọng hơn là rừng thường nằm ở vị trí trọng yếu trên cảnh quan, khi rừng bị chuyển đổi có thể dẫn đến nhiều hiệu ứng khác ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Về mặt chính trị mà nói, khi tư nhân mà vào đầu tư thì thôi rồi hehee,vừa dễ cho bọn nước ngoài chiếm đất, vừa dễ cho bọn giàu có chiếm đất còn người nghèo cứ nghèo dần nghèo dần. Thứ 3, lão ta bảo là khuyến khích cả hộ nông dân tham gia chuyển đổi rừng nhưng thực tế hộ dân nào bon chen nổi với các công ty nước ngoài giàu có đứng phía sau. Chỉ toàn là hình thức hehee
Tóm lại là việc phân loại rừng nghèo tùy thuộc vào nhiều tiêu chí và việc chuyển đổi kêu gọi đầu tư cho rừng nghèo để chuyển nó sang rừng giàu nhiều cái hại hơn cái được. mà theo như lão ấy đề xuất thì nhà mình vừa mất rừng, mất đất còn tạo điều kiện cho bọn nước ngoài vào nữa chứ.


Việc liên quan tới thuế tài nguyên này lại thể hiện nữa.

1. Các bác NGO này kêu là thuế tài nguyên là để hạn chế và giảm lượng sản xuất mặt hàng gây ô nhiễm môi trường. Hehe, giảm thế quái nào được, chỉ là quản lí theo một quy chuẩn. Tại sao? bởi các mặt hàng làm ô nhiễm môi trường lại là mặt hàng cần thiết cho cuộc sống ko thể ko sản xuất. Xăng, gas, khí - ko có nó thì tiêu rồi hehee. Các bác chỉ nhìn vào mấy việc túi ni long với túi giấy để mà comment mà ko có một bức tranh tổng thể về sự phức tạp của vấn đề. Mà với vấn đề như kiểu túi ni lông với giấy thì chả ai người ta cần đến Luật để đánh thuế cả.Chi phí cho việc thực thi luật còn tốn kém hơn nhiều so với mức thu từ việc phát. Mục tiêu của luật là khuyến khích và đảm bảo rằng bên sản xuất sản xuất mặt hàng mà giảm thiểu tối đa các hoạt động ô nhiễm. Chứ nếu để giảm và chặn, thì lấy đâu nguồn cho ngân sách, lấy đâu ra sự phát triển kinh tế và cân bằng kinh tế hehee. Các bác lãnh đạo thừa hiểu ai nắm cán cân kinh tế trong xã hội mà.

2. Các bác này đề xuất đủ thứ tiêu chí phải thêm vào Luật mà chả hề nghĩ tới tác động của nó. Đúng là ai cũng cố giảm thiểu nhưng anh giảm bắt nước anh giảm 10%, trong khi các nước khác nó chỉ bảo ngành công nghiệp của nó giảm có 2% thì anh chả đạt được việc đóng góp cho môi trường mà thậm chí lại còn đưa ngành công nghiệp của anh vào thế bí và dần bị loại bỏ do ko cạnh tranh nổi. Các con số đưa ra ko phải chỉ tối đa cho mục đích môi trường mà cần cân bằng với các mục tiêu khác.

3. Họ lại tiếp tục cãi nhau về phí và thuế và bảo phải rõ ràng. Hehe... phí và thuế bản chất chỉ là công cụ kinh tế mà thôi. Mục đích đều là để tăng ngân sách cho nhà nước. Họ bảo cần phải phân biệt và nên đánh thuế vào người tiêu dùng và nhà sản xuất để hạn chế việc sản xuất các mặt hàng gây ô nhiễm. Hehe, anh nghĩ kết quả cuối cùng là gì ? Có bọn công ty nào nó lại chịu thuế với phí ấy ? Nó sẽ tăng giá mặt hàng hoặc sản xuất mặt hàng rẻ hơn để đẩy chi phí xuống thấp và chuyển chi phí cho người dùng phải trả. Cuối cùng người mua mới là người chịu hậu quả còn bọn sản xuất vẫn cứ ung dung hưởng lời.

4. Buồn cười nhất là việc Luật phải tham khảo Luật của Mỹ chứ. 2 nước có nền kinh tế khác nhau, học thế quái nào được trừ khi các ngành công nghiệp của VN vừa hiện đại vừa đủ sức cạnh tranh như US. ĐIểm xuất phát của 2 nước là khác nhau ko thể learn được. Các bác lại bảo chính phủ phải trích dẫn tài liệu tham khảo và nguồn số liệu trong Luật. Luật chỉ là khung chứ có phải báo cáo khoa học đâu mà...

Anyway, một vấn đề cần nhìn từ nhiều phía và các bác này chỉ nhìn vào lỗ thông gió chứ ko nhìn vào cửa sổ và cửa chính của nhà...

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2010

Một ngày ở nhà

Một ngày ở nhà rất là lu bu với đám nhóc, kể ra với bạn bè chỉ để nhằm mục đích thanh minh rằng thời gian của tớ rất là eo hẹp.

Buổi sáng để chuông báo thức lúc 6h (thực ra tớ muốn dậy sớm hơn nhưng không khả thi). Loay hoay vệ sinh cá nhân rồi gọi bọn nhóc con dậy. Lần lượt đưa từng đứa đi tắm rửa thay quần áo. Sau đó là đến lượt mẹ nó cho 02 đứa nhỏ uống sữa, riêng đứa lớn có thể tự cầm hộp sữa uống. Xong phần ăn uống là đến màn mẹ buộc tóc cho cô gái lớn và cô gái nhỏ. Bố tiếp theo với phần đi giầy, dép cho 02 đứa nhỏ. Cả gia đình ra khỏi nhà thường là vào lúc 7h30'. Đưa đứa lớn đến trường vào khoảng 7h45-7h50 và gửi nốt 02 đứa nhỏ ở Nhóm trẻ gia đình vào lúc 07h55-08h00. Hai vợ chồng về đến office thường là lúc 8h10' sáng trong khi giờ làm việc bắt đầu lúc 7h30'.

Thường thì vào khoảng 16h00 là mẹ bắt đầu đi đón 03 đứa về office. Mẹ phải đi 02 lượt mới đón hết lũ nhóc. Sớm nhất thì cũng phải 17h00 bố mới ra khỏi office để chở cả gia đình về nhà. Về đến nhà thì việc đầu tiên là mẹ cho 02 đứa nhỏ uống sữa. Màn tiếp theo lại là bố tắm rửa thay quần áo cho 03 đứa. Bọn nhóc được chơi trong thời gian mẹ nấu cơm và sau đó là màn mẹ cho đứa lớn ăn rồi đến 02 đứa nhỏ ăn. Sớm nhất là 20h30' màn ăn uống kết thúc với cậu Cu. Bố tiếp quản, thay quần áo ngủ cho cậu Cu và mời chàng an giấc. Sau khi mẹ cho cô Cún ăn xong thì mẹ vào dỗ cô Cún ngủ, bố quay ra lau nhà. Tiếp đến là màn dạy học chữ cho cô lớn rồi cho cô lớn ngủ. Bố tiếp tục quay ra với Internet đến 23h hoặc muộn hơn.

Ngày hôm sau lại tiếp tục như vậy. Nhưng đây chỉ là lịch dành cho ngày đi làm, ngày Chủ Nhật thì cậu Cu và cô Cún cũng được nghỉ, thời gian biểu có sự thay đổi phù hợp hơn. Túm lại là ngủ dậy ăn, ăn xong ngủ. Ngủ dậy ăn, ăn xong ngủ. Ngủ dậy uống sữa, xong chơi đến chập tối thì lại ăn, ăn xong ngủ....

Cho đến giờ tớ vẫn chưa nghĩ ra cách gì thoát ra khỏi lịch làm việc này.

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2010

BBC VIỆT NGỮ: VÀI ẢO TUỞNG

Copy bài viết này từ blog Thiên Triều.

Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc được 35 năm. Vai trò đưa tin về cuộc chiến tranh này của các hãng tin và ký giả ngọai quốc lẽ ra cũng đã chấm dứt. Thế nhưng, vì những lý do khách quan và chủ quan, những hãng tin này lại tiếp tục là những nguồn tin tham khảo tưởng chừng như là “trung lập”, khách quan. Tiếc thay, thực tế lại không như thế, và một số người lại ảo tưởng về “thân phận” của mình.

Ảo tưởng đầu tiên là là độc lập trong đưa tin bài. Khuôn khổ chung cho các đài quốc tế có ban Việt ngữ là chỉ đưa tin bài thời sự thế giới “ngoài luồng” tức những tin bài của “đài mẹ” (BBC World Service hay RFI Service Mondial). Chỉ có dịch và dịch. Từ chiến tranh Việt Nam ngày xưa, đến chiến tranh Iraq, Afghanistan, Pakistan sau này… đố một ban Việt ngữ nào được tự mình bình luận mà không dựa 100% lên nguyên văn “đài mẹ”. Nghĩa là đướng lối chính phủ nước ‘chủ” như thế nào, thì phản ánh như thế ấy, theo “đài mẹ”.

“Lề phải” là “lề phải” , ở đâu cũng vậy.

Trước khi chiến tranh Iraq 2003 nổ ra, đài BBC “mẹ” (BBC World Service) và các “đài con” luôn bám sát ý của thủ tướng Anh Tony Blair lúc đó là sát cánh cùng tổng thống Mỹ George W. Bush , mà “đài mẹ” có nhiệm vụ truyền tải thông tin chiến sự Iraq theo “lề phải” .

Khi đó cả làng báo Mỹ được bộ quốc phòng Mỹ cho lên “lề phải” với cái cách gọi mỹ miều là “embedded journalists”, cùng ăn, cùng ngủ với các đơn vị quân đội Mỹ- Anh “Giải phóng Iraq”…Khi chiến tranh Iraq nổ ra, có đến từ 570 đến 750 ký giả Mỹ được BQP Mỹ mời “cùng ăn, cùng ngủ” và đương nhiên cùng “thấy” những gì được “cùng nhìn”.

Ngược lại, vào thời điểm đó, RFI (Việt ngữ) làm sao dám cùng ‘tham gia” lật đổ Saddam Hussein với BBC hay VOA, RFA (Việt ngữ) khi mà tổng thống Pháp Jacques Chirac lúc đó đang là lá cờ đầu chống chiến tranh đơn phưong của Mỹ-Anh. Còn sau này, khi ông Bush “về vuờn”, các đài kia có thi nhau tính sổ thành tích của ông Bush và phê phán cuộc chiến tranh sa lầy đó, lại là chuyện “thế gian thường tình”.

Nói đến “lề phải” của BBC Việt ngữ, có thể nêu vô số tin bài, như bài tường thuật ý kiến của đại sứ Anh tại Việt Nam, Mark Kent "Anh quốc cảnh báo thực trạng tội phạm người Việt”.[1]

“Tại buổi gặp mặt ở London ngày 05/03/2010 tại phía đông London, Đại sứ Mark Kent nói: “Thật không may là uy tín của cộng đồng người Việt tại Anh vào lúc này đang bị ảnh hưởng tiêu cực”. Trong cuộc trao đổi và bàn bạc với một số người Việt đã ở Anh lâu năm, Đại sứ Mark Kent nói: "Tôi không muốn thấy việc nhắc đến chữ Việt Nam là người ta liên tưởng tới trồng cần sa và nhập cư bất hợp pháp".

Cuộc họp diễn ra chỉ một ngày sau khi báo chí tại Anh đăng tải tin cảnh sát đột nhập vào một tòa biệt thự sang trọng ở miền trung nước Anh có vườn và phòng trong nhà bị dùng để trồng cần sa và một số người bị bắt là người Việt.

"Thực ra không chỉ là uy tín của cộng đồng người Việt tại Anh bị ảnh hưởng mà chúng ta cũng phải thấy rằng nhập cư bất hợp pháp và tội phạm là hai vấn đề có liên kết với nhau”.Chúng ta nói tới không chỉ hoạt động trồng cần sa mà cả các vụ bắt cóc hoặc thậm chí giết người”, Đại sứ Mark Kent nói…”.

BBC Việt ngữ đã có thể tự mình đào sâu vấn đề nguời Việt nhập cư lậu vào Anh này với đại sứ Mark Kent, nhân dịp ông này có mặt ở London để làm rõ vấn đề này một cách khách quan thực sự. Tiếc rằng BBC Việt ngữ đã không làm như thế. Do lẽ vấn đề bao trùm nhiều lĩnh vực liên quan đến nhiều cơ quan của Anh, như đường dây đưa người nhập cảnh vào Anh, qua nước Pháp, khu trú số người nhập cự lậu vào Anh, các nỗ lực ngăn chận của các cơ quan ấy, nỗ lực nào của sứ quán Anh ở Việt Nam trong việc thông tin bạch hóa ảo mộng sang Anh kiếm sống…?...Ít nhất, một mail với nội dung trên đã được gửi đến ông đại sứ Anh ở Hà nội từ tháng 1 năm nay song chưa được hồi âm.

Chẳng qua BBC Việt ngữ cũng chỉ là một ‘cái loa” cho chính phủ Anh, như có thể thấy qua đa số các tin bài “dịch và dịch”. Một ‘cái loa” có trả lương bên cạnh các “loa” không ăn luơng có thể đếm được trên blog của ông đại sứ Mark Kent.

LÀM CHÍNH TRỊ TỪ XA CHỤC NGÀN KM.

Thật ra, thế hệ BBC Việt ngữ ngày nay khác hẳn với thế hệ thứ nhất, trước 1975. Thời thế cũng khác. Trong nửa sau của cuộc chiến tranh VN, phong trào phản đối chiến tranh VN thời đó là xu hướng chính (major trend) trong giới truyền thông các xã hội Tây phương, nên báo chí phuơng Tây lúc đó (và thế giới) mới không chịu ở trong “lề phải” của các cuộc họp báo hàng ngày của JUSPAO vốn là những danh sách “đếm xác” (body counts) vô nghĩa và vô tận. Càng không “ái mộ” các cuộc họp báo của Bộ Thông Tin Sài Gòn ở Tổng Cục Thông tin quốc ngoại.

Nhờ dịch lại tin của báo chí “luồng chính”(major trend) tức độc lập đó, mà BBC Việt ngữ trong chiến tranh VN được hưởng hai chữ “thông tin khách quan”. Nhất là những tin nội bộ chính trường Saigòn. Khi mấy muơi tờ nhật báo ở Saigòn trưa trưa bị Chánh sở báo chí Việt ngữ đục bỏ nhiều quá, các trang báo trắng hếu vì các ô “tự ý đục bỏ”, thì sáng tối thiên hạ, có dò đài BBC mà nghe, cũng là chuyên dễ hiểu: lưỡi kéo kiểm duyệt của Bộ ‘Hốt Cắt Đục” đâu có làm rụng sợi lông nào các báo đài ngọai quốc. Chuyện dài này xưa nay đều thế.Và chính vì thế mà các bào đài ở bên ngoài bỗng dưng trở thành “báo chí chân chính” !

Sau 1975, khỏang cách thông tin cũng như trước 1975, vì cũng chừng đó lý do. Từ tin chính trị đến chiến tranh CPC, biên giới…, nên vô hình trung BBC Việt ngữ, khi dịch các bài viết của các ‘đài mẹ’, được hưởng “sái” khách quan, thông tin sớm.

Thế hệ ấy sau 1975 tất nhiên cùng chiều với làn sóng thuyền nhân. Lớp BBC đầu tiên ấy,vốn dân Tây học, thuộc lòng thế giới sử, nhớ việc tướng De Gaulle di tản qua Anh tháng 6 năm 1940, lên đài BBC đọc lời hiệu triệu dân Pháp kháng chiến chống Đức, rồi tưởng tượng ra mình cũng là De Gaulle, khi loan tin về thuyền nhân, về chiến tranh CPC, về khó khăn kinh tế của VN trong thập niên 1980, để có thể từ công việc dịch giả và phát thanh viên, khoác lấy vai trò ‘làm chính trị”…

Môt lần, năm 1996, trưởng ban VN BBC Chris Greene (cháu của nhà văn Graham Greene), được chia sẻ về số nhân viên của ông trong một bữa trưa ăn cơm Ấn Độ rằng:” Làm sao có thể làm chính trị từ cách xa 13.000km?! Có giỏi, họ hãy về nước mà làm chính trị”.

Sau khi Chris Greene lên làm giám đốc châu Á Thái bình duơng, tuyển một số nhân viên mới từ Úc qua, lấy một người làm trưởng ban. Đây là những người di dân sang Úc sau này. Một vài người gõ cửa BBC để kiếm một “cần câu cơm”, chứ không để làm chính trị. Có người, trưa trưa ra cửa sau nhai bánh mì sandwich cho tiết kiệm, vì thân ở London, vợ con ở Úc, một đồng luơng hai “bếp ăn”, sau đó nhanh chóng giã từ “Bush House” (tên gọi của BBC) về lại Úc.

Sau này, ê kíp mới gồm một số cựu “cán” hoặc “con cán” từ trong nước hoặc Đông Âu qua. Từ nguồn gốc “thành phần thứ tư” này , ảo tưởng càng nặng nề. Cuối chiến tranh VN, đã có ‘thành phần thứ ba”, tự cho mình là phi cộng hòa/ phi cộng sản, rốt cục chẳng bên nào tin. Cuối chiến tranh Lạnh, nổi lên “thành phần thứ tư” tưong tự. Chẳng qua nhờ đứng từ xa cả chục ngàn km, chẳng hề hấn gì, nên tự gán cho mình những tự hào vốn chẳng phải tự mình mà có, khi “từ trên trời nhảy qua” thừa hưởng những định chế có sẵn mà một đất nước như vuơng quốc Anh đã bắt đầu tập tành dân chủ từ thời Tể tướng Cromwell, cách đây ba thế kỷ rưỡi hơn.

Bài học từ mấy mươi năm trước: chính những “cái kéo kiểm duyệt” đã dựng nên những chính khách sa lông biết mình vô tội vạ nhờ từ xa chục ngàn km. Những con cắc kè thuờng hay đổi màu theo thân cây nó bám. Nay không lẽ phủ nhận dòng máu Lạc Rồng, ôm lấy hình hài da thịt “dị nhân” để đón gió? Hay để thả bóng cho ai?

[1] BBC Việt ngữ, thứ hai, 8 tháng 3, 2010.

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Gốc (tiểu luận / nhận định của Phạm Thị Hoài)

Copy bài này từ Note của bác Nguyên Hưng trên Face Book.

Mỗi lần nghe nhắc: mất gốc là người nghệ sĩ mất nguồn sáng tạo, tôi lại có cảm giác không yên ổn. Như thể mình đang là một công dân đứng đắn của quốc gia nghệ thuật, mà thỉnh thoảng đội bảo vệ cứ gõ cửa, hỏi xem mình có cần họ giúp gì không. Cũng gần giống cảm giác như khi bị nhắc, rằng nghệ thuật muốn thế nào cũng phải phát sinh từ hiện thực. Kết quả là tôi vô cùng biết ơn gốc rễ, hiện thực với mọi quê hương và căn cứ địa khác của nghệ thuật, cũng như biết ơn đội bảo vệ sốt sắng ấy, song trong thâm tâm thì bắt quả tang mình mong các quý vị đó đừng ở chơi quá ba ngày. Phần đông các nghệ sĩ không sáng tạo gì hết. Một số ít sáng tạo trong một giai đoạn ngắn. Một số vô cùng ít sáng tạo tương đối lâu dài. May ra đếm trên đầu ngón tay được những nghệ sĩ suốt đời sáng tạo trong lịch sử nhân loại. Như vậy tìm ra nguồn cơn của sáng tạo thì khó, và điều đó mãi mãi là bí ẩn, chứ một lần nữa cho sự không sáng tạo thêm một nguyên cớ nào có ích gì. Nhà văn Việt ở bên ngoài có thể cho rằng mình không viết nổi, vì thiếu nước Việt chẳng hạn. Nhà văn Việt ở bên trong, nếu viết cũng không nổi, liệu có phải vì quá thừa nước Việt chăng?

Tôi vốn tin rằng, người ta dù theo nghĩa nào cũng không thể mất gốc. Một là, nếu không có, chưa bao giờ có một gốc rễ nào đó, thì mất nó khác nào mất con cá ở ngoài lưới, một con cá thật to. Những thế hệ con cháu chúng ta ở hải ngoại, tuy được mệnh danh là người Mỹ, người Pháp... gốc Việt, nhưng chữ ‘gốc’ này cùng lắm chỉ tiết lộ đặc trưng chủng tộc chứ không phải đặc trưng văn hoá. Song chu trình con gà và quả trứng áp dụng vào chủng tộc và văn hoá đã lộ rõ nhược điểm của nó, từ ít nhất hai thập kỷ nay chúng ta coi chủng tộc không là gì khác hơn một trong những chức năng của văn hoá, chứ chiều ngược lại không vận hành. Những thế hệ ấy bắt rễ trong văn hoá của những quốc gia phát triển phương Tây, họ không thể đánh mất văn hoá Việt, là thứ họ không sở hữu. Chữ ‘gốc’ thứ hai này mới thật sự. Thậm chí chữ ‘gốc’ thứ nhất nói trên, dùng cho họ, tôi cho là đã khiên cưỡng. Chẳng những các thói quen, hay là bản năng thứ hai, mà bản năng thứ nhất ở những thế hệ ấy cũng đã thay đổi đáng kể. Chỉ cần xem da họ phản ứng thế nào với ánh nắng và độ ẩm nhiệt đới, và răng họ mắc hay không mắc những bệnh gì là đủ. Không cần phải là một chuyên gia dân tộc học cũng xác nhận được, khoảng cách giữa người Việt Kinh ở trong nước với người Mỹ gốc Việt chẳng hạn, ít nhất cũng bằng giữa người Kinh với người Mèo. Chúng ta thường cảm động trước những cố gắng tìm hiểu về Việt Nam của họ và gọi đó, một cách đầy thiện cảm và cũng đầy mơ hồ, là những cố gắng ‘tìm về cội nguồn’. Nhưng ai có thể chắc chắn nên đẩy cội nguồn đến mốc thời gian và không gian nào trong quá khứ? Đi ngược vài ba thế hệ để về đến hai đồng bằng châu thổ lớn của nước Việt, hay có thể triệt để đi tiếp, về hướng những khu rừng Đa Đảo chăng? Chúng ta lại càng nhiệt tình khích lệ họ viết tiếng Việt. Trong phần lớn các trường hợp ăn giải khuyến khích như vậy, phẩm chất văn chương mà biểu hiện hiển nhiên nhất là ở ngôn ngữ, xếp hàng cuối cùng. Tôi không muốn làm kẻ phá đám ‘khuyến Việt’, song phải nhận là thương tiếng Việt như thế cũng khổ cho tiếng Việt lắm thay!

Quyết định viết bằng một ngôn ngữ nào là kết hôn với nó cả đời, hưởng nó mà cũng chịu đựng nó, thậm chí cắn răng mà chịu, đúng theo nghĩa đến chết mới chia ly. Cuộc hôn nhân thủ cựu, hà khắc, trói buộc này thông thường không phải là phòng thí nghiệm hay hãng du lịch. Ở đa số tác giả thử viết bằng tiếng Việt nói trên, tôi có cảm tưởng đôi bên còn chưa cầm tay nhau, trong khi rất có thể họ đã ăn nằm như thế nào đó với một bản ngữ khác. Cảm giác chưa cầm tay nhau đương nhiên rất phỉnh nịnh và quyến rũ, khiến người chưa vỡ tiếng Việt có thể lâng lâng bay như trên lưng ngựa Phù Đổng, trong khi người dày dạn lại như bò lê dưới gánh nặng mà dân tộc Việt có thể trút xuống một thành viên đơn lẻ của mình. Có lẽ không cần phải quẩy trọn gánh ấy mới là mang quê hương theo, tôi biết vô số người đã trút quá nửa gánh ấy xuống dọc đường di tản mà vẫn còn nguyên là người Việt. Nhưng cưỡi ngựa mà xem hoa như nói trên thì ít liên quan đến việc tìm cội nguồn Việt. Cách đây không lâu tôi đọc một truyện ngắn của một tác giả gốc Việt viết tiếng Anh. Bản dịch tiếng Việt chỉ cho thấy đấy là văn dịch, không tiết lộ một văn phong riêng tư gì đã đành, mà cố hình dung bản gốc tôi cũng chẳng tìm được một điều gì nhất thiết liên quan đến ‘Việt tính’, song truyện ngắn đó được giới thiệu đại loại là nghệ thuật của một thế hệ tuy đã dùng ngôn ngữ khác, nhưng vẫn ‘man mác tâm hồn dân tộc’. Tôi hy vọng dân tộc Nga chẳng hạn, không đi tìm dấu vết của tâm hồn mình trong ‘Lolita’. Còn Kafka, liệu dân tộc nào giành được bản quyền tâm hồn mình ở đó?

Hai là, nếu một gốc rễ nào đó từng tồn tại, thì không dễ gì mất hẳn. Vốn liếng của một cộng đồng văn hoá cấp cho mỗi người khi bước vào đời có phần khác với món gia tài của cha mẹ để lại. Khả năng hoàn toàn phá sản ở trường hợp thứ hai có thể xảy ra qua đêm. Ở trường hợp thứ nhất, không dễ dàng mà thành trắng tay như vậy. Vốn liếng ấy giống tuổi thơ, có thể giống cả mối tình đầu, giống lần thứ nhất nhìn thấy biển, nếu muốn thì giống lần đầu tiên đi xem hát nữa. Tôi rất tránh dùng những cách nói, đại loại như ‘tìm lại tuổi thơ’, hay ‘mối tình đầu đã mất’, và đương nhiên là bất đắc dĩ mà dùng ‘tìm về cội rễ’. Người ta mang những thứ ấy trong mình tự nhiên chẳng khác gì mang mẩu ruột thừa sót lại từ thuở tổ tiên gặm cỏ, để lấy ví dụ khiêm tốn nhất. Lắm người phải cắt nó đi mới sống được, còn lại không mấy ai dành cho nó lấy một nửa ý nghĩ. Ấy quả là vật thừa duy nhất trong cái cơ thể được chức năng hoá hoàn hảo của chúng ta. Có lẽ cũng thừa như các vua Hùng trong mỗi ngày đi làm, đóng thuế, kẹt xe và viết vô vọng vài trang truyện ngắn của một người Việt nơi đất khách. Tôi mang nó, từ khi mới đẻ, và hài lòng rằng nó chưa bao giờ viêm lên. Nhưng tôi không hình dung được con đường ‘tìm về’ mẩu ruột thừa ấy.

Lại lấy ví dụ một người từng sinh trưởng trong tiếng Việt. Là ngôn ngữ của một xứ phương Nam, nơi hoả vượng mà vạn vật khuếch trương hương vị như cách lý giải của người xưa, tiếng Việt giàu vốn từ chỉ tỉ mỉ từng sắc thái, cấp độ của muôn loại mùi chẳng hạn. Hẳn cũng vì hoả vượng, mà những mùi khó chịu cũng được cơ hội bành trướng. Mùi phân mèo thì chua, mùi phân gà hôi, phân trâu hắc, phân lợn nồng, phân trẻ con thum thủm, phân người lớn thối, còn mồm ai đó thì thối hoắc. Mùi và tình trạng thực phẩm hỏng trong bếp Việt mới thực đa dạng. Cá thì tanh, thịt thì ôi, cơm thì khê, rau thì oi khói, dưa thì khú, mắm thì khắm, gạo thì hẩm, trứng thì ung, khoai thì ủng, cháo thì vữa, canh thì thiu, lạc thì mốc, mỡ thì khét lẹt... Sau này người ấy sống hẳn ở một xứ lạnh, hoả chẳng vượng, vạn vật không phát hết mùi, mũi xứ người chắc cũng nhạy không kém mũi xứ ta, nhưng tiếng nước người cho chân thối, cá thối, tiền thối, chính trị cũng thối như thế cả, muốn phân biệt phải dùng thêm từ mô tả, không có chữ nào, chỉ bằng chính nó, thoả mãn cái biết của khứu giác như trong tiếng ta. Một lúc nào đó, người ấy thậm chí có thể quên cái vỏ âm thanh của những từ Việt chỉ mùi, nhưng bản thân những mùi đã từng có một tên riêng ấy, từng là những thực thể đặc thù ấy, trong sâu thẳm không dễ gì hoà chung làm một với ‘thối’ và chỉ ‘thối’. Theo tôi, giữ được mùi quê như thế, thụ động và ở tít một nơi ẩn khuất nào đó trong lòng, đã là bảo quản gốc gác. Với người viết, ai biết giữa một mùi mong manh đã mất tên và một nền tảng nhận thức được mệnh danh chắc nịch, cái gì dư sức khuấy động hơn?

Cộng đồng Việt nhỏ bé ở bên ngoài lại có một phẩm chất đặc biệt: nó bảo tồn rất nhiều khía cạnh văn hoá Việt mãnh liệt và cuồng nhiệt hơn ở chính quốc. Một lúc nào đó, tôi e rằng các học giả muốn truy tìm dấu tích lịch sử của dân tộc Việt, thay vì đi Hà Nội có lẽ phải đến Quận Cam. Cội rễ có thể bị bật tung tại chính chỗ phát sinh, nhưng lại dai dẳng sống sót ở những vùng biên xa xôi nhất. Việt Nam hải ngoại là một vùng biên như thế. Xin lấy già nửa thế kỷ lưu lạc của văn chương tiền chiến làm ví dụ. Lấy lời than năm 1917 của một trong những nhà khuyến Việt nhiệt thành mà bi đát nhất, Phạm Quỳnh, làm mốc, rằng quốc ngữ khi ấy còn sài đẹn ấu trĩ như tiếng bi be của đứa lên ba, khiến bậc cao sĩ ‘ngồi hầu chuyện các văn-nhân thi-sĩ nước Tàu nước Tây vẫn còn sướng hơn’, và ‘trong khi họp-tập năm ba anh em ngồi với nhau, bàn những chuyện thiết-tha, nói những điều tâm-sự, mà đương câu chuyện phải pha một hồi tiếng tây hay điểm mấy câu tiếng tàu’, thì tiếng Việt không đầy hai thập kỷ sau của văn chương tiền chiến là một thành quả vĩ đại. Hai thập kỷ sau nữa nó đã ngắc ngoải, và chậm nhất là sau Hiệp Định, miền Bắc đã kết thúc thời kỳ quá độ ngôn ngữ, để các thế hệ sau đó có thể yên tâm mà nói giọng hiện thực xã hội chủ nghĩa thuần khiết. Thế hệ tôi quả là miệng không uống giọt sữa nào, bút không chấm giọt mực nào của tiền chiến. Lại hai thập kỷ sau, nếu nước Việt không tái thống nhất, có lẽ tôi chẳng có dịp thử nếm mùi vị của một quá khứ không xa ấy. Cả một nền văn hoá tiền chiến theo chân người-Bắc-54 di cư mà cố thủ trong lòng hồi cổ, và sinh sôi trên mảnh đất Nam Bộ vốn không quá khắt khe. Rồi lại hai thập kỷ sau nữa, Nam Bộ ấy đã đổi khác, muốn gặp văn chương tiền chiến phải tiếp tục di tản, giạt mãi tới vùng chót, bám gót người Việt hải ngoại. Ở tít nơi hạ nguồn này, một thành quả từng là vĩ đại mãi mãi là vĩ đại. Một nửa thế kỷ chen vào giữa không có giá trị gì. Tôi từng ngẩn ngơ, khi đọc thơ của một tác giả hải ngoại cùng lứa, thấy ‘xuân mộng, hồn mơ, cõi tiên, quan san, tống biệt, hận thu, đêm liêu trai, trăng mất ngủ, gió về đâu, sầu mấy kiếp, lệ vơi, tình rơi, đời ơi, trời hời...’, như lạc vào bảo tàng văn học. Như vậy cũng có thể phỏng đoán, chẳng hạn tiếng Việt hiện thực xã hội chủ nghĩa nếu có mất mát tại chính quốc, chắc còn chỗ trú lâu dài nơi người Bắc tị nạn đời mới tại Đông Âu. Bảo hoàng hơn vua phải chăng là tính cách muôn thuở của tỉnh lẻ? Như thể càng xa nguồn càng bị trói không giãy nổi khỏi nguồn? Như thể văn chương Việt hải ngoại đau ruột thừa triền miên mà không dám cắt phăng cái mẩu nợ nần ấy.

Vào chính lúc này, khi xã hội Việt Nam ở bên trong đang lên cơn truyền thống dân tộc, như nó đã từng lên những cơn kích động kỳ lạ khác mà không sẵn rơ-le tự ngắt, liệu một nhà văn Việt ở bên ngoài có nên mạnh dạn vứt đi chiếc cân tiểu ly thường thủ sẵn trong tay áo, bên này là dân tộc, bên kia là thế giới, hay không. Cái dụng cụ tinh tế ấy chưa từng dùng được cho một tác phẩm nặng cân nào của văn học Việt đương đại. Vả lại, cái đầu của nhà văn Việt thì hoan nghênh một sự hài hoà kết hợp, mà lòng thì nghiêng về truyền thống hơn. Văn chương Việt ra ngoài nước ắt có sứ mệnh làm một nền-văn-học-đau-lòng-con-cuốc-cuốc, lại càng viết bằng bụng nhiều hơn bằng đầu, yêu cái đã có hơn đam mê cái chưa có, ngoái nhìn cội rễ xa ngái hơn khao khát những vùng đất lạ ở sát nách, chăm bẵm những lý tưởng nghệ thuật của cha ông mình để lại như con đẻ, còn lý tưởng của cha ông kẻ khác là con ghẻ, bằng mặt mà không bằng lòng. Tôi không dám cho thế là dở. Nếu cái đã có đủ đồ sộ thì ở tù trong đó chắc cũng được sung sướng. Có lẽ nhiều người mãn nguyện như thế hơn tôi tưởng. Khi đọc D.H. Lawrence chẳng hạn, tôi không bất giác coi ông là nhà văn Anh dù ông viết tiếng Anh về nước Anh, sau này vỡ lẽ rằng ông cả đời lưu lạc. Còn khi đọc một số đồng nghiệp Việt ở hải ngoại, tôi thành thật xin lỗi vì nhận xét không ưu ái này, tôi bất giác cho rằng họ chưa bao giờ rời nước Việt, mặc dù các nhân vật của họ đi gần khắp thế giới, chỉ trừ đi Phi đen. Văn học Việt hải ngoại không thiếu Việt Nam. Mà thiếu thế giới.

Ngay cả sự thiếu thốn tiếng Việt ở bên ngoài, quả là xác thực, nhưng tôi cũng cho đó là một trở ngại cần thiết. Rút cục thì chúng ta đáng được cái handicap này thử thách hơn là những chướng ngại khác từng biết. Mỗi người cầm bút đều hơn một lần than thầm, hoặc kêu ầm lên, về sự bất lực của ngôn ngữ, rằng ngôn bất tòng ý, bất tòng tình. Như thể điều mình muốn diễn đạt vượt quá sức tải của ngôn ngữ. Cá nhân tôi không công nhận cái bi kịch nghề nghiệp đó. Tôi cho rằng ngôn ngữ cũng như thời gian, không biết thế nào là đủ, nhưng ai cũng có một phông thời gian và một kho từ ít nhất là vừa đủ dùng cho chính mình. Vốn liếng ấy không thể bất cập nhu cầu của bản thân, mà chỉ bất cập với nhu cầu của kẻ khác. Nếu chỉ thuần túy sống trong môi trường ngôn ngữ Việt, dù có là một thiên tài chăng nữa cũng chỉ đi đến hết cái giới hạn của tiếng Việt hiện có, hay nói cách khác, lên đến đỉnh cao của những nhu cầu diễn đạt hiện tại của dân tộc. Có trời chứng giám là những nhu cầu ấy tự biết chừng mực của mình. Tôi xin trở lại câu chuyện ngôn ngữ vào một dịp riêng khác, ở đây chỉ xin lưu ý rằng, trong suốt lịch sử văn học và lịch sử phát triển tư tưởng Việt Nam, không một nhà lập ngôn quan trọng nào của chúng ta không cùng một lúc đứng vững chãi cả hai chân, một trong tiếng Việt nôm, và một trong một ngôn ngữ khác. Chính sự bất lực tạm thời của tiếng Việt trước nội dung cần diễn đạt của một cộng đồng ngôn ngữ khác như chúng ta hằng chứng kiến trong cuộc sống lưu lạc, vâng, chính nó là cái may trong cái rủi của nhà văn Việt xa xứ. Ta hãy xem hắn có những cơ hội gì:

Hắn có thể vừa bị cuốn theo ông chủ ngôn ngữ mới, vừa trung thành trong giới hạn cho phép với chủ cũ, là vốn liếng tiếng Việt mang theo. Trong trường hợp này, sớm muộn hắn cũng rời bỏ văn chương tiếng Việt. Mỗi năm viết dăm bảy trang là cố gắng cuối cùng của hắn, để chăm sóc một kỷ niệm về tiếng Việt hơn thực sự dùng tiếng Việt. Rồi hắn sẽ thử viết bằng ngôn ngữ mới. Bằng một ngoại ngữ. Và có cảm tưởng mình cũng không tồi. Dường như sự tầm thường của hắn trong tiếng Việt có thể biến mất trong ngoại ngữ, chí ít hắn trở nên khúc chiết và ít bay bướm hơn. Tuy mỗi khi trở về với tiếng Việt, hắn lại xoàng như cũ, nhưng điều đó không quan trọng, vì chẳng cộng đồng văn chương nào thiếu bóng những thành viên như thế. Quan trọng là, hắn không còn đặt kỳ vọng ở tiếng Việt, và đấy là sự giải phóng: giải phóng hắn, để hắn tự do đi tìm một ngôn ngữ khác. Và giải phóng tiếng Việt. Khỏi một mối tình hờ. Công cuộc giải phóng này không thể xảy ra ở Việt Nam.

Hoặc hắn quyết liệt tẩy chay cái ngôn ngữ lạ mặt kia ngay từ đầu, và trong thế phòng thủ đơn độc cũng có thể kiêu hãnh mà đi hết giới hạn đã định của mình. Văn giới Việt Nam hải ngoại biết không ít những cuộc đi nhẵn nẻo đường cùng như vậy. Giãy chết cũng có thể hùng tráng, và tang lễ hoàn toàn có thể đẹp.

Hoặc hắn phải nhảy vọt. Vượt khỏi một lãnh thổ ngôn ngữ, một giai đoạn ngôn ngữ, một số phận ngôn ngữ cho trước. Tôi tin rằng, sinh lực của Việt ngữ phụ thuộc vào những thành tựu vượt rào như vậy, chứ không nhất thiết còn hay mất ở việc vốn từ bên ngoài có bị tiêu lẹm, có kém cập nhật chút ít so với ở Việt Nam.

Tiếng Việt trong nước quả nhiên có những cách nảy nở riêng của nó, và công trình ngôn ngữ của một tập thể gần tám mươi triệu người nhất định là trên tầm cỡ của một cố gắng cá nhân. Khu vực ngôn ngữ chính trị không mấy tiến bộ, ngôn ngữ của các khoa học nhân văn cũng dẫm chân tại chỗ, của các ngành kinh tế và kỹ thuật phát triển chắp vá và vô chính phủ, ‘quan thoại’ của Việt ngữ tại chính nước Việt thì ngủ kỹ, nhưng bù vào đó, ‘bạch thoại’ rực rỡ hơn bao giờ. Tôi có cảm giác rằng, người Việt chưa từng ăn nói lắm kiểu hấp dẫn, khôi hài, giàu liên tưởng và mắc những lỗi ngôn ngữ tuyệt vời như trong vòng một thập kỷ nay. Nôm hiện đại đang ở đỉnh cao, tuy vẫn không phải là ngôn ngữ lý tưởng để suy tư trừu tượng hay thúc đẩy luận lý, nhưng dồi dào để diễn đạt những tâm tình và kinh nghiệm trực quan của thời đại. Nếu muốn thì gần như bất kỳ ai trong các nhà văn Việt hải ngoại cũng có thể mỗi năm về ‘vỗ béo’ tiếng Việt đã gầy guộc chút ít của mình ở đó. Song nhu cầu Việt ngữ của văn giới hải ngoại xem ra không cấp thiết đến mức như vậy. ‘Bạch thoại’ của miền Nam trước bảy lăm mang theo đến giờ còn dùng đủ, còn up-to-date lắm. Nếu ngày mai, lý do lưu vong của chúng ta không còn nữa, liệu có bao nhiêu nhà văn Việt đang sống ở hải ngoại, chỉ vì cái nghiệp của tiếng Việt, chỉ vì e ‘mất nguồn sáng tạo’, mà quyết định trở về?

Phần mình, tôi ra khỏi Việt Nam vài năm trước, công việc cho phép gặp vô số nhà văn sống lưu lạc, đến mức tôi có cảm tưởng rằng, du mục là một trong những điều kiện nghề nghiệp của một nhóm văn sĩ càng ngày càng đông đúc. Quê hương họ là những cuộc hành trình. Phản bội quê hương là dừng lại quá lâu một chỗ.



Phạm Thị Hoài

(Chưa bình luận gì được gì về bài viết này vì thực sự là cần nhiều thời gian để đọc và cảm nhận. Hình như trình độ đọc hiểu của mình đang ngày càng suy kém thì phải.)

Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2010

Phản biện tí

Copy bài này từ Note của bác T.H.Nguyên trên Facebook.


Ai mà chả muốn giữ biển, giữ biên cương lãnh thổ? Bài này sẽ chia ra các phần Question, Fact và Bình “Lựng”, cho nó tiện, hén.

Question: Ai có khả năng giữ biển đảo, biên cương lãnh thổ?

Fact:

Hải quân chính quyền Sài Gòn đánh một trận năm 1974, thua chạy, mất hết cả quần đảo. (Xin nói trộm vong linh người đã khuất, là tuy đánh thua nhưng về còn được huân chương!)

Mấy ông “khúc ruột” bên nước ngoài không có quân đội, cũng không có thế ngoại giao. Hồi đó, mấy ổng cũng từng có quân đội, súng ống và “đồng minh” hùng mạnh bậc nhất thế giới, nhưng vẫn thua.

Hải quân QĐND Việt Nam đánh, các chiến sĩ hy sinh, mất Gạc Ma, nhưng nhiều đảo còn giữ được cho đến tận bây giờ.

Question: Dựa thế nước to được không? Nước to nào đây?

Fact:

Có nước to đang khủng hoảng kinh tế, bận đánh nhau vài ba nơi đang còn chưa ngã ngũ, mà anh nước to này đã từng đi đêm với anh nước lạ. Còn một nước to khác đã từng phụ trợ ta đánh nước to kia, và khá là chung thuỷ, nói một cách tương đối.

Trong lịch sử Việt Nam cận đại, chỉ thấy có một lực lượng có thể huy động, tổ chức làm các việc lớn thành công. Ai dám phủ nhận vai trò của người lãnh đạo, của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ trong trận Bạch Đằng, Đống Đa? Có người nói “Nếu” thế này thế nọ. Ở đây không bàn chuyện “Nếu”, sự thật lịch sử chỉ có một mà thôi. Thế mới gọi là Fact.

Bình lựng:

Các blogger giữ biển đảo được không? Chưa rõ, hehe, nhưng tui nghi lắm. Tui chắc rằng một số blogger sẽ sẵn sàng gia nhập quân đội một khi lâm chiến, nhưng phải có người chỉ huy giỏi mới thắng. Vậy ai chỉ huy đây, hỡi các blogger, và quý vị có tuân lệnh chỉ huy không hay lại cãi lộn xà ngầu như một hợp tác xã thợ mộc?

Các blogger dường như không nghe, không biết chuyện mua sắm tàu ngầm, phi cơ, hay chuyện tuần tiễu của ta đuổi hàng trăm tàu lạ ra khỏi cương vực. Các blogger cũng dường như không nghe, không biết chuyện xưa, cũng từng có những người “đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tổ phụ”, vậy mà triều đình vẫn lấy lễ đãi sứ, chỉ khi nó đem binh sang đây mới đánh cho phải chui vào ống đồng mà chạy, thấy thảm hại luôn.

Các blogger nói rằng sự đồng thuận là sức mạnh, phải có tinh thần Diên Hồng. Tui nghĩ không phải người ta không biết lòng dân đâu. Sợ rằng người ta biết rất rõ, nhưng vì thế nước, người ta phải tính. Vậy mới phải có người chỉ huy, chứ để cho binh nhì định chiến thuật chiến lược, tui e là dân ta nói tiếng Quảng Đông lâu rồi. Mà cái người chỉ huy này hồi nào đến giờ thắng nhiều rồi, có uy tín đấy.

Question: Có thằng hàng xóm định lấn sân. Có ông chiến binh trong nhà, từng thắng nhiều trận, nhưng không to mồm, không cãi cọ, nhiều lúc nhịn nhục và bảo người thân trong nhà đừng có cãi nữa, nhưng ngấm ngầm đi sắm mã tấu và rào lại hàng rào. Một bên là các thành viên trong nhà om sòm chửi lại, và có mấy ông họ hàng ở xa chẳng có kế sách nào ra hồn, mã tấu thì không có, đánh trận nào thua trận nấy, lại cứ về hùa với con cháu trong nhà chửi um lên. Chọn ông nào giữ nhà đây?

Trả lời thế nào, là quyền của quý vị.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Lẩn thẩn

Lượn lờ trên blog, đọc được cái entry "Phở-phần 1 bản nháp" của Cavenui khá hay. Nhưng mà đến đến đoạn “...Huy Bom dẫn ý Tô Hoài về chuyện ăn phở Thìn Hàng Dầu trong thời máy bay Mỹ ném bom Hà Nội làm nhiều người comment phản bác. Công nhận cái đoạn “đôi khi báo động phải bưng bát phở ra hố cá nhân sát mép nước Hồ Gươm ăn tiếp” nó đẹp hoành tráng như trong văn học làm em hình dung cảnh bộ đội mình chơi tá lả sát phạt nhau trước giờ nổ súng khi cái chết cận kề. Không sống ở Hà Nội thời ấy, nhưng xét theo tính hợp lý thì em tin các blogger phản đối hơn tin Tô Hoài. Từ đây lại mở rộng ra vấn đề thứ 2, những chuyện ngày xưa của các cụ già được coi là chưa lẫn như Tô Hoài độ tin cậy đến đâu. Tô Hoài nhầm lẫn không phải lần đầu. Trong Cát bụi chân ai (hay Chiều chiều?), hình như cụ Tô đã nhìn lầm 1 chú Ivan nào đó ra ông Pasternak....” thì lại thấy không đồng ý lắm với góc nhìn của Cavenui.

Cá nhân tớ thì cho rằng ở thời kỳ ấy, ngày nào Hà Nội cũng có lệnh báo động máy bay Mỹ ném bom nên lâu dần người dân đã quen dần với nếp sống có bom đạn. Tớ cho rằng ấy là sự thích nghi với hoàn cảnh mà thôi. Chính vì vậy, cái chuyện “bưng bát phở ra hố cá nhân sát mép nước Hồ Gươm ăn tiếp” cũng chỉ là việc bình thường mà thôi chứ cũng chả phải là hoành tráng văn học gì.
Chừng nửa đêm qua lúc đi ngủ đọc tiếp cái tản văn “Giấc mộng ông thợ dìu” của Tô Hoài. Đến cái truyện “Người chơi tranh” kể về quán Cafe Lâm của Lâm Toét thấy cái có đoạn “…Quán cà phê Lâm vẫn đông. Bom ném xuống ngã tư, khách bưng cả cốc cà phê uống dở xuống hố cá nhân, nhấp nhô đầu lên uống nốt….” thì lại càng khẳng định thêm ý nghĩ về sự thích nghi với cuộc sống trong chiến tranh của người Hà Nội. Loay hoay bò dậy viết comment lại với Cavenui. Loay hoay một lúc ngó ra đồng hồ thì đã là 3h sáng, tự nhiên thấy mình rõ là lẩn thẩn.

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

Trách nhiệm của tư nhân khi tham gia liên kết xuất bản

Mấy hôm nay cư dân mạng ồn ào vụ em LKN và cuốn sách “Sợi xích” của NXB Hội Nhà văn. Một số ý kiến phản ứng cho rằng em nó muốn ồn ào, tạo scandal để bán sách và quảng bá bản thân. Một số ý kiến lên án trách nhiệm của NXB Hội Nhà văn đã vì lợi nhuận trước mắt mà để lọt một tác phẩm “dâm thư” ra thị trường. Ở đây tớ không bàn nhiều về nội dung cuốn sách (vì tớ chưa đọc hết toàn bộ mà chỉ đọc một trích đoạn trên blog Cogaidolong). Tuy nhiên, qua vụ việc này tớ thấy rằng hoạt động xuất bản ở VN vẫn còn có kẽ hở trong hoạt động liên kết xuất bản giữa tư nhân với các nhà xuất bản. Tại điều 20 của Luật Xuất Bản năm 2004 quy định:

Điều 20. Liên kết trong lĩnh vực xuất bản

1. Nhà xuất bản được liên kết với tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, cá nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh về in hoặc phát hành xuất bản phẩm và tổ chức có tư cách pháp nhân để tổ chức bản thảo, in và phát hành từng xuất bản phẩm.

2. Giám đốc nhà xuất bản tổ chức biên tập hoàn chỉnh và ký duyệt bản thảo trước khi đưa in, ký duyệt xuất bản phẩm liên kết trước khi phát hành.

3. Tổ chức, cá nhân liên kết với nhà xuất bản quy định tại khoản 1 Điều này được đứng tên trên xuất bản phẩm và liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với xuất bản phẩm liên kết.

Theo quy định của điều 20 thì có thể hiểu rằng: NXB được phép liên kết với tư nhân trong hoạt động xuất bản; NXB chịu trách nhiệm chính đối với ấn phẩm khi xuất bản: Tư nhân chịu trách nhiệm liên đới đối với ấn phẩm của mình đem đến liên kết xuất bản. Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay mọi hoạt động xử lý của các cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực xuất bản đều nhằm vào các NXB bởi 02 lý do: Giám đốc NXB là những người thuộc cơ quan Nhà nước do vậy hình thức và biện pháp xử lý sẽ dễ dàng thực hiện hơn; Chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định rõ ràng và cụ thể về cái gọi là “trách nhiệm liên đới” của tư nhân ở trong Luật xuất bản. Cho đến tận “Quy chế liên kết trong hoạt động xuất bản” ban hành vào tháng 6/2008 cũng chẳng có một chế tài nào đối với tư nhân trong quá trình tham gia hoạt động xuất bản 01 ấn phẩm sai phạm mà vẫn chỉ nhăm nhăm vào GĐ các NXB. Tớ cho rằng điều này là hoàn toàn chưa công bằng và là một thiếu sót lớn trong việc tạo ra bộ lọc các ấn phẩm xấu trước khi đến với các NXB.

Hoạt động liên kết xuất bản giữa tư nhân và NXB là hoạt động đôi bên cùng có lợi: Tư nhân tham gia bản thảo để thỏa mãn nhu cầu xuất bản của mình và phát hành để thu lợi nhuận; NXB có thêm nguồn bản thảo phong phú và cũng thu được một phần lệ phí cho hoạt động của mình. Vậy thì tại sao khi có ấn phẩm xấu của tư nhân bị phát hiện mà lại chỉ có NXB bị xử lý? Với những tác phẩm xấu khi phát hành trên thị trường thì tư nhân cũng sẽ bị xã hội lên án hay NXB cũng sẽ bị ảnh hưởng lớn đến thương hiệu. Tuy nhiên, tớ cho rằng không nên trông chờ vào “đạo đức” của tư nhân cũng như hy vọng vào sự nghiêm cẩm của các Biên tập viên hay sự gìn giữ thương hiệu của các NXB một cách hình thức. Mặc dù đặt trách nhiệm của các NXB lên cao nhất nhưng rõ ràng cũng cần phải có hình thức chế tài rõ ràng đối với trách nhiệm của từng bên, cụ thể như cá nhân đưa bản thảo xấu đến NXB cũng phải chịu hình thức xử lý của pháp luật, cty liên kết xuất bản đưa bản thảo xấu đến NXB cũng phải có chế tài để xử lý thật nghiêm.

Làm được như vậy là chúng ta đã tạo thêm được bộ lọc nhất định bằng pháp luật để loại bỏ không ít những ấn bản xấu của tư nhân khi muốn đưa ra thị trường. Tớ tin rằng chẳng người đọc có tri thức nào lại phản đối điều đó.

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2010

Chuyện ô tô lao xuống rạch

Vầng, mấy hôm nay bạn bè cứ điện thoại, nhắn tin, chat chít hỏi thăm và động viên sau vụ lao ô tô xuống rạch. Em xin cảm ơn tất cả anh chị em bạn bè. Còn cái nguyên nhân vụ việc thì nó là thế này:

Không hiểu sao mấy năm nay cái khu Chung cư nhà em ở mỗi lần triều cường lên là biến thành cái đảo. Một tháng mất 4-5 ngày bị triều cường, từ 5h30 tối tới 9h tối và từ 6h30 sáng cho tới 9h sáng thì nước mới rút đi. Mà lúc đỉnh triều thì thường là nước ngập ngang bánh xe em, những hôm triều cường lên cao thì lút bánh là chuyện bình thường.

Xe em thì mới lấy. Mới chạy về nhà được vài hôm. Sáng ngày hôm trước ngày xảy ra tai nạn thì cũng là ngày triều cường lên cao. Em lấy xe ô tô chạy đi làm. Nhưng khổ nỗi nước ngập, có cái nhà bên đường gần ra vào Chung cư nhà em che chắn để nước khỏi vào nhưng khi xe ô tô em đi qua thì nước đánh sóng sang 2 bên khiến nước vào nhà người ta, tất nhiên là em bị người ta chửi rồi . Nhưng em cũng đâu có muốn thế . Sáng hôm ấy lên đến cơ quan thì cả sàn xe ngập nước. Em phải đi tháo thảm sàn để làm vệ sinh nước đọng.

Sáng hôm tai nạn xảy ra, nước cũng vẫn lên. Mà ác thật các bác ạ: 6h30 sáng em ngó ra đường thấy vẫn khô cong, ấy thế mà 7h30 em xuống xe thì đã ngập nửa bánh. Thì tất nhiên là em vẫn phải đi làm. Đang đánh xe ra hướng đường nhựa như mọi hôm thì có ông lái xe Ford Everest bảo đi đường đất phía sau cho khỏi ngập nước. Cái đường đất ấy mọi khi em chỉ đi xe máy về thôi vì nó hơi nhỏ lại có cái cột chắn giữa để cấm xe ô tô tải. Nhưng mà em cứ thử vì biết đâu sau này sẽ có thể đi lâu dài (mỗi khi nước ngập). Nếu đi đúng luật thì em phải đi phía bên phải, nhưng cái phía ấy là phía sát với rạch nên em đánh lái sang bên trái để đi, vừa vào đầu đường là ngay cái khúc cua (hơi khuất tầm nhìn) thì em thấy có cái xe máy đi ngược chiều nên em đánh lái sang bên lề phải, ga mát quá nên lao thẳng xuống rạch luôn.

Thôi thì em vẫn tự động viên là vẫn còn may chán, lao nhanh hơn tí nữa thì cả xe và cả nhà nằm dưới cái rạch ấy rồi.


Nhân chuyện anh Hải nói về vụ Bảo hiểm, em kể luôn: Ngay từ trước khi lấy vợ hai, em đã săm soi khá kỹ vấn đề bảo hiểm trên OF và rất kết Liberty. Em đã gọi trực tiếp đến tổng đài của Liberty thì được báo lại là sẽ có nhân viên gọi cho em để thảo luận trực tiếp. Một ngày sau, có một nhân viên sale gọi là và tư vấn em rất đầy đủ. Tuy nhiên vì thời điểm đó xe em chưa có giấy tờ hải quan và hóa đơn bán hàng nên chưa thể làm hợp đồng bảo hiểm. Em đã dặn anh sale là nhắn tin cho em cái số đt của anh ấy vào máy đt của em để khi nào có hóa đơn và giấy tờ xe thì em sẽ gọi cho anh ấy để ký hợp đồng. Bặt tăm cả tuần chả thấy tin nhắn và điện thoại gì cả. Lúc đi lấy giấy tờ xe thì nhân viên bán hàng bảo em là để cô ấy làm hợp đồng bảo hiểm luôn cho. Nghĩ nể gái xinh và biết là em nó cũng sẽ được vài phần trăm trong cái hợp đồng ấy nên em đồng ý và không quên dặn là mua bảo hiểm của Liberty. Ấy thế nhưng mà khi cầm giấy tờ bảo hiểm thì em ngớ người ra vì hợp đồng bảo hiểm là ký với Công ty Bảo hiểm Dầu khí (PVI) KV Đông Nam Bộ. Vài ngày sau mới thấy cái anh sale của Liberty gọi lại cho em để thảo luận việc làm hợp đồng. Tiếc rằng em đã giao vợ hai nhà em cho PVI rồi.

Lúc ngồi chờ anh bảo hiểm đến xem hiện trường vụ tai nạn em ngồi tán láo với anh lái xe cứu hộ. Em hỏi rằng bảo hiểm nào tốt nhất, anh ấy cũng biểu là Liberty vì nó mới, chăm sóc khách hàng tốt và của nước ngoài. Em thì chả nghĩ thế: Vấn đề các công ty bảo hiểm của VN hiện nay đều là con cái của các Tập đoàn, Doanh Nghiệp nhà nước lớn nên cực kỳ ỉ lại vào bố mẹ. Ví như cái Bảo hiểm Dầu khí (PVI) chẳng hạn nó là con của Tập đoàn Dầu khí VN nên chả cần làm gì nó cũng đương nhiên có được hợp đồng bảo hiểm rất lớn từ Bố nó (như bảo hiểm các dàn khoan, nhà giàn ngoài biển chẳng hạn)....Chính vì vậy, các dịch vụ bảo hiểm khác của PVI thì em đồ rằng nó chỉ làm cho có (đầy đủ các nghiệp vụ bảo hiểm) mà thôi chứ không thực sự quan tâm đến chất lượng và khách hàng.

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2010

Xe ngập nước và bài học kinh nghiệm của em

Sáng qua, chỉ sau vài tích tắc xử lý không đúng chiếc xe ô tô của tớ đã lao thẳng xuống cái rạch ở bên đường. Lúc xe lao xuống thì vẫn còn nổ máy, tớ thò tay tắt máy rồi di tản vợ con ra khỏi xe trong cơn hoảng loạn và sợ hãi của vợ. Giải quyết cho vợ và con đi taxi đi học và đi làm trước tớ ở lại xử lý hậu quả do mình gây ra.


Bốc điện thoại gọi cho "cụ HardTop" (một chuyên gia kỹ thuật về xe Huyndai) để hỏi cách xử lý thì được hướng dẫn rất tận tình – tạm yên tâm phần kỹ thuật. Bước thứ là sau một hồi vật lộn với sự giúp đỡ của bà con xung quanh thử tìm cách kéo xe lên không đạt kết quả tớ đã gọi 1080 để hỏi số đt của cứu hộ và gọi họ đến kéo xe lên. Chờ khoảng hơn nửa tiếng thì xe cứu hộ đến nhưng anh lái xe cứu hộ đã rất chân tình khuyên tớ không nên kéo xe lên vội mà hãy gọi cho người của Công ty bảo hiểm.


Đến lúc ấy tớ mới chợt nhớ ra rằng mình có mua bảo hiểm 2 chiều của Cty Bảo hiểm dầu khí PVI ngay từ trước khi lấy xe ra khỏi showroom. Lại loay hoay tìm số đt của người phụ trách bảo hiểm chiếc xe. Lại thêm 01 tiếng chờ đợi vì anh phụ trách bảo hiểm yêu cầu giữ nguyên hiện trường cho đến khi anh ta có mặt. Đến hiện trường, bằng những động tác rất sành điệu anh phụ trách bán bảo hiểm lôi Iphone ra chụp hình. Sau một hồi ngã giá, anh phụ trách bảo hiểm và anh lái xe cứu hộ thỏa thuận được mức giá kéo xe lên và đưa xe về Trung tâm sửa chữa là 1,5 tr.

Xe về đến xưởng sửa chữa, mấy ông kỹ thuật viên ra mở nắp ca pô, rút cái cây thăm dầu máy và thăm dầu của hộp số ra xem rồi phán xanh rờn: "Xe của anh bị nước vào trong máy rồi". Được một lát thì anh phụ trách tư vấn – dịch vụ cùng với anh nhân viên bảo hiểm qua báo xe bị nước vào máy và vào trong hộp số bây giờ phải tháo máy và tháo hộp số ra để vệ sinh cho sạch lại không thì sẽ vỡ máy....blah blah blah...Tớ đếch tin, tớ lại gọi "cụ HardTop" để tư vấn, cụ bảo nước không vào được máy và hộp số đâu, ở ngoài HN anh làm nhiều xe bị ngập nước rồi, em cứ yên tâm. Tớ cẩn thận nhờ cụ HardTop nói chuyện với anh phụ trách tư vấn – dịch vụ - về phần kỹ thuật để đảm bảo chắc chắn là sẽ không cần phải bổ máy. Thế nhưng có lẽ vì làm dịch vụ nên mấy anh ở xưởng cứ vẫn giữ quan điểm cho rằng xe bị nước vào trong máy và hộp số mà bằng chứng là ở que thăm dầu của máy và hộp số có nước vào...Với sự tin tưởng vào trình độ và kinh nghiệm xử lý xe Huyndai của "cụ HardTop" tớ nhất quyết không chịu bổ máy, hộp số mà chỉ yêu cầu chỉ thay dầu máy và hộp số, sau đó thì vệ sinh sạch sẽ xe. Ký xong yêu cầu sửa xe thì tớ ra về.

Tối về nằm suy nghĩ: Tớ cũng rất tin vào việc không thể xảy ra chuyện nước có thể vào máy và hộp số, nhưng rõ ràng chuyện nước vào lẫn trong dầu máy và dầu hộp số khi xe bị đâm đầu xuống nước (như của tớ) hay ngập trong nước là điều có thể. Vậy thì không bổ máy, hộp số mà chỉ cần thay dầu như vậy liệu có đúng không? Rõ ràng "cụ HardTop" phải có cái lý gì đó khi cho rằng chỉ cần thay dầu máy và hộp số, nếu cẩn thận nữa thì đi vài ngày sau lại thay dầu máy và hộp số thêm 01 lần nữa là xong. Cuối cùng thì tớ đã hiểu ra, cái lý của nó là thế này: Khi xe lao xuống nước (hoặc ngập trong nước) thì việc đầu tiên bạn phải làm là tắt máy xe. Mặc dù khả năng ngăn nước xâm nhập vào máy xe ô tô là rất tốt nhưng rõ ràng là nước có thể xâm nhập vào dầu máy và dầu hộp số nếu cứ ngâm nước lâu. Việc tắt máy xe đi có nghĩa là bạn không cho động cơ hoạt động, nó cũng đồng nghĩa với việc ngưng chuyển dầu máy (có dính nước) đi làm mát và bôi trơn ở khắp động cơ và cô lập dầu máy cũng như dầu hộp số có dính nước ở nguyên tại khu vực của nó. Vì vậy, chẳng có lý gì mà nước có thể vào máy của bạn hay hộp số của bạn được cả, mặc dù bạn có thể nhìn thấy nước ở que thăm dầu máy cũng như dầu hộp số.

Kinh nghiệm của tớ được rút ra sau vụ này là:

- Ngay sau khi bị ngập nước xe ô tô, nếu có đủ thời gian thì bạn hãy tắt máy ngay rồi di chuyển người và tài sản ra khỏi xe.

- Khi xảy ra sự cố, sau những biện pháp cấp bách cần phải xử lý ngay để tránh thiệt hại về người và của thì việc tiếp theo bạn nên làm là hãy gọi đt cho người phụ trách bảo hiểm của mình. Nếu bạn thay đổi hiện trường (mà không có lý do chính đáng hoặc theo đúng quy định của bảo hiểm) thì bạn sẽ phải là người chi trả các hóa đơn chứ không phải Công ty Bảo hiểm.

- Bạn đừng quá tin vào những nhân viên kỹ thuật ở xưởng sửa chữa bởi nếu sửa chữa càng nhiều, thay phụ tùng càng nhiều thì họ càng có lợi, và tất nhiên, điều ấy không hẳn đã là tốt cho bạn và cho cả chiếc xe.