Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Lẩn thẩn

Lượn lờ trên blog, đọc được cái entry "Phở-phần 1 bản nháp" của Cavenui khá hay. Nhưng mà đến đến đoạn “...Huy Bom dẫn ý Tô Hoài về chuyện ăn phở Thìn Hàng Dầu trong thời máy bay Mỹ ném bom Hà Nội làm nhiều người comment phản bác. Công nhận cái đoạn “đôi khi báo động phải bưng bát phở ra hố cá nhân sát mép nước Hồ Gươm ăn tiếp” nó đẹp hoành tráng như trong văn học làm em hình dung cảnh bộ đội mình chơi tá lả sát phạt nhau trước giờ nổ súng khi cái chết cận kề. Không sống ở Hà Nội thời ấy, nhưng xét theo tính hợp lý thì em tin các blogger phản đối hơn tin Tô Hoài. Từ đây lại mở rộng ra vấn đề thứ 2, những chuyện ngày xưa của các cụ già được coi là chưa lẫn như Tô Hoài độ tin cậy đến đâu. Tô Hoài nhầm lẫn không phải lần đầu. Trong Cát bụi chân ai (hay Chiều chiều?), hình như cụ Tô đã nhìn lầm 1 chú Ivan nào đó ra ông Pasternak....” thì lại thấy không đồng ý lắm với góc nhìn của Cavenui.

Cá nhân tớ thì cho rằng ở thời kỳ ấy, ngày nào Hà Nội cũng có lệnh báo động máy bay Mỹ ném bom nên lâu dần người dân đã quen dần với nếp sống có bom đạn. Tớ cho rằng ấy là sự thích nghi với hoàn cảnh mà thôi. Chính vì vậy, cái chuyện “bưng bát phở ra hố cá nhân sát mép nước Hồ Gươm ăn tiếp” cũng chỉ là việc bình thường mà thôi chứ cũng chả phải là hoành tráng văn học gì.
Chừng nửa đêm qua lúc đi ngủ đọc tiếp cái tản văn “Giấc mộng ông thợ dìu” của Tô Hoài. Đến cái truyện “Người chơi tranh” kể về quán Cafe Lâm của Lâm Toét thấy cái có đoạn “…Quán cà phê Lâm vẫn đông. Bom ném xuống ngã tư, khách bưng cả cốc cà phê uống dở xuống hố cá nhân, nhấp nhô đầu lên uống nốt….” thì lại càng khẳng định thêm ý nghĩ về sự thích nghi với cuộc sống trong chiến tranh của người Hà Nội. Loay hoay bò dậy viết comment lại với Cavenui. Loay hoay một lúc ngó ra đồng hồ thì đã là 3h sáng, tự nhiên thấy mình rõ là lẩn thẩn.

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

Trách nhiệm của tư nhân khi tham gia liên kết xuất bản

Mấy hôm nay cư dân mạng ồn ào vụ em LKN và cuốn sách “Sợi xích” của NXB Hội Nhà văn. Một số ý kiến phản ứng cho rằng em nó muốn ồn ào, tạo scandal để bán sách và quảng bá bản thân. Một số ý kiến lên án trách nhiệm của NXB Hội Nhà văn đã vì lợi nhuận trước mắt mà để lọt một tác phẩm “dâm thư” ra thị trường. Ở đây tớ không bàn nhiều về nội dung cuốn sách (vì tớ chưa đọc hết toàn bộ mà chỉ đọc một trích đoạn trên blog Cogaidolong). Tuy nhiên, qua vụ việc này tớ thấy rằng hoạt động xuất bản ở VN vẫn còn có kẽ hở trong hoạt động liên kết xuất bản giữa tư nhân với các nhà xuất bản. Tại điều 20 của Luật Xuất Bản năm 2004 quy định:

Điều 20. Liên kết trong lĩnh vực xuất bản

1. Nhà xuất bản được liên kết với tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, cá nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh về in hoặc phát hành xuất bản phẩm và tổ chức có tư cách pháp nhân để tổ chức bản thảo, in và phát hành từng xuất bản phẩm.

2. Giám đốc nhà xuất bản tổ chức biên tập hoàn chỉnh và ký duyệt bản thảo trước khi đưa in, ký duyệt xuất bản phẩm liên kết trước khi phát hành.

3. Tổ chức, cá nhân liên kết với nhà xuất bản quy định tại khoản 1 Điều này được đứng tên trên xuất bản phẩm và liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với xuất bản phẩm liên kết.

Theo quy định của điều 20 thì có thể hiểu rằng: NXB được phép liên kết với tư nhân trong hoạt động xuất bản; NXB chịu trách nhiệm chính đối với ấn phẩm khi xuất bản: Tư nhân chịu trách nhiệm liên đới đối với ấn phẩm của mình đem đến liên kết xuất bản. Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay mọi hoạt động xử lý của các cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực xuất bản đều nhằm vào các NXB bởi 02 lý do: Giám đốc NXB là những người thuộc cơ quan Nhà nước do vậy hình thức và biện pháp xử lý sẽ dễ dàng thực hiện hơn; Chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định rõ ràng và cụ thể về cái gọi là “trách nhiệm liên đới” của tư nhân ở trong Luật xuất bản. Cho đến tận “Quy chế liên kết trong hoạt động xuất bản” ban hành vào tháng 6/2008 cũng chẳng có một chế tài nào đối với tư nhân trong quá trình tham gia hoạt động xuất bản 01 ấn phẩm sai phạm mà vẫn chỉ nhăm nhăm vào GĐ các NXB. Tớ cho rằng điều này là hoàn toàn chưa công bằng và là một thiếu sót lớn trong việc tạo ra bộ lọc các ấn phẩm xấu trước khi đến với các NXB.

Hoạt động liên kết xuất bản giữa tư nhân và NXB là hoạt động đôi bên cùng có lợi: Tư nhân tham gia bản thảo để thỏa mãn nhu cầu xuất bản của mình và phát hành để thu lợi nhuận; NXB có thêm nguồn bản thảo phong phú và cũng thu được một phần lệ phí cho hoạt động của mình. Vậy thì tại sao khi có ấn phẩm xấu của tư nhân bị phát hiện mà lại chỉ có NXB bị xử lý? Với những tác phẩm xấu khi phát hành trên thị trường thì tư nhân cũng sẽ bị xã hội lên án hay NXB cũng sẽ bị ảnh hưởng lớn đến thương hiệu. Tuy nhiên, tớ cho rằng không nên trông chờ vào “đạo đức” của tư nhân cũng như hy vọng vào sự nghiêm cẩm của các Biên tập viên hay sự gìn giữ thương hiệu của các NXB một cách hình thức. Mặc dù đặt trách nhiệm của các NXB lên cao nhất nhưng rõ ràng cũng cần phải có hình thức chế tài rõ ràng đối với trách nhiệm của từng bên, cụ thể như cá nhân đưa bản thảo xấu đến NXB cũng phải chịu hình thức xử lý của pháp luật, cty liên kết xuất bản đưa bản thảo xấu đến NXB cũng phải có chế tài để xử lý thật nghiêm.

Làm được như vậy là chúng ta đã tạo thêm được bộ lọc nhất định bằng pháp luật để loại bỏ không ít những ấn bản xấu của tư nhân khi muốn đưa ra thị trường. Tớ tin rằng chẳng người đọc có tri thức nào lại phản đối điều đó.

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2010

Chuyện ô tô lao xuống rạch

Vầng, mấy hôm nay bạn bè cứ điện thoại, nhắn tin, chat chít hỏi thăm và động viên sau vụ lao ô tô xuống rạch. Em xin cảm ơn tất cả anh chị em bạn bè. Còn cái nguyên nhân vụ việc thì nó là thế này:

Không hiểu sao mấy năm nay cái khu Chung cư nhà em ở mỗi lần triều cường lên là biến thành cái đảo. Một tháng mất 4-5 ngày bị triều cường, từ 5h30 tối tới 9h tối và từ 6h30 sáng cho tới 9h sáng thì nước mới rút đi. Mà lúc đỉnh triều thì thường là nước ngập ngang bánh xe em, những hôm triều cường lên cao thì lút bánh là chuyện bình thường.

Xe em thì mới lấy. Mới chạy về nhà được vài hôm. Sáng ngày hôm trước ngày xảy ra tai nạn thì cũng là ngày triều cường lên cao. Em lấy xe ô tô chạy đi làm. Nhưng khổ nỗi nước ngập, có cái nhà bên đường gần ra vào Chung cư nhà em che chắn để nước khỏi vào nhưng khi xe ô tô em đi qua thì nước đánh sóng sang 2 bên khiến nước vào nhà người ta, tất nhiên là em bị người ta chửi rồi . Nhưng em cũng đâu có muốn thế . Sáng hôm ấy lên đến cơ quan thì cả sàn xe ngập nước. Em phải đi tháo thảm sàn để làm vệ sinh nước đọng.

Sáng hôm tai nạn xảy ra, nước cũng vẫn lên. Mà ác thật các bác ạ: 6h30 sáng em ngó ra đường thấy vẫn khô cong, ấy thế mà 7h30 em xuống xe thì đã ngập nửa bánh. Thì tất nhiên là em vẫn phải đi làm. Đang đánh xe ra hướng đường nhựa như mọi hôm thì có ông lái xe Ford Everest bảo đi đường đất phía sau cho khỏi ngập nước. Cái đường đất ấy mọi khi em chỉ đi xe máy về thôi vì nó hơi nhỏ lại có cái cột chắn giữa để cấm xe ô tô tải. Nhưng mà em cứ thử vì biết đâu sau này sẽ có thể đi lâu dài (mỗi khi nước ngập). Nếu đi đúng luật thì em phải đi phía bên phải, nhưng cái phía ấy là phía sát với rạch nên em đánh lái sang bên trái để đi, vừa vào đầu đường là ngay cái khúc cua (hơi khuất tầm nhìn) thì em thấy có cái xe máy đi ngược chiều nên em đánh lái sang bên lề phải, ga mát quá nên lao thẳng xuống rạch luôn.

Thôi thì em vẫn tự động viên là vẫn còn may chán, lao nhanh hơn tí nữa thì cả xe và cả nhà nằm dưới cái rạch ấy rồi.


Nhân chuyện anh Hải nói về vụ Bảo hiểm, em kể luôn: Ngay từ trước khi lấy vợ hai, em đã săm soi khá kỹ vấn đề bảo hiểm trên OF và rất kết Liberty. Em đã gọi trực tiếp đến tổng đài của Liberty thì được báo lại là sẽ có nhân viên gọi cho em để thảo luận trực tiếp. Một ngày sau, có một nhân viên sale gọi là và tư vấn em rất đầy đủ. Tuy nhiên vì thời điểm đó xe em chưa có giấy tờ hải quan và hóa đơn bán hàng nên chưa thể làm hợp đồng bảo hiểm. Em đã dặn anh sale là nhắn tin cho em cái số đt của anh ấy vào máy đt của em để khi nào có hóa đơn và giấy tờ xe thì em sẽ gọi cho anh ấy để ký hợp đồng. Bặt tăm cả tuần chả thấy tin nhắn và điện thoại gì cả. Lúc đi lấy giấy tờ xe thì nhân viên bán hàng bảo em là để cô ấy làm hợp đồng bảo hiểm luôn cho. Nghĩ nể gái xinh và biết là em nó cũng sẽ được vài phần trăm trong cái hợp đồng ấy nên em đồng ý và không quên dặn là mua bảo hiểm của Liberty. Ấy thế nhưng mà khi cầm giấy tờ bảo hiểm thì em ngớ người ra vì hợp đồng bảo hiểm là ký với Công ty Bảo hiểm Dầu khí (PVI) KV Đông Nam Bộ. Vài ngày sau mới thấy cái anh sale của Liberty gọi lại cho em để thảo luận việc làm hợp đồng. Tiếc rằng em đã giao vợ hai nhà em cho PVI rồi.

Lúc ngồi chờ anh bảo hiểm đến xem hiện trường vụ tai nạn em ngồi tán láo với anh lái xe cứu hộ. Em hỏi rằng bảo hiểm nào tốt nhất, anh ấy cũng biểu là Liberty vì nó mới, chăm sóc khách hàng tốt và của nước ngoài. Em thì chả nghĩ thế: Vấn đề các công ty bảo hiểm của VN hiện nay đều là con cái của các Tập đoàn, Doanh Nghiệp nhà nước lớn nên cực kỳ ỉ lại vào bố mẹ. Ví như cái Bảo hiểm Dầu khí (PVI) chẳng hạn nó là con của Tập đoàn Dầu khí VN nên chả cần làm gì nó cũng đương nhiên có được hợp đồng bảo hiểm rất lớn từ Bố nó (như bảo hiểm các dàn khoan, nhà giàn ngoài biển chẳng hạn)....Chính vì vậy, các dịch vụ bảo hiểm khác của PVI thì em đồ rằng nó chỉ làm cho có (đầy đủ các nghiệp vụ bảo hiểm) mà thôi chứ không thực sự quan tâm đến chất lượng và khách hàng.

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2010

Xe ngập nước và bài học kinh nghiệm của em

Sáng qua, chỉ sau vài tích tắc xử lý không đúng chiếc xe ô tô của tớ đã lao thẳng xuống cái rạch ở bên đường. Lúc xe lao xuống thì vẫn còn nổ máy, tớ thò tay tắt máy rồi di tản vợ con ra khỏi xe trong cơn hoảng loạn và sợ hãi của vợ. Giải quyết cho vợ và con đi taxi đi học và đi làm trước tớ ở lại xử lý hậu quả do mình gây ra.


Bốc điện thoại gọi cho "cụ HardTop" (một chuyên gia kỹ thuật về xe Huyndai) để hỏi cách xử lý thì được hướng dẫn rất tận tình – tạm yên tâm phần kỹ thuật. Bước thứ là sau một hồi vật lộn với sự giúp đỡ của bà con xung quanh thử tìm cách kéo xe lên không đạt kết quả tớ đã gọi 1080 để hỏi số đt của cứu hộ và gọi họ đến kéo xe lên. Chờ khoảng hơn nửa tiếng thì xe cứu hộ đến nhưng anh lái xe cứu hộ đã rất chân tình khuyên tớ không nên kéo xe lên vội mà hãy gọi cho người của Công ty bảo hiểm.


Đến lúc ấy tớ mới chợt nhớ ra rằng mình có mua bảo hiểm 2 chiều của Cty Bảo hiểm dầu khí PVI ngay từ trước khi lấy xe ra khỏi showroom. Lại loay hoay tìm số đt của người phụ trách bảo hiểm chiếc xe. Lại thêm 01 tiếng chờ đợi vì anh phụ trách bảo hiểm yêu cầu giữ nguyên hiện trường cho đến khi anh ta có mặt. Đến hiện trường, bằng những động tác rất sành điệu anh phụ trách bán bảo hiểm lôi Iphone ra chụp hình. Sau một hồi ngã giá, anh phụ trách bảo hiểm và anh lái xe cứu hộ thỏa thuận được mức giá kéo xe lên và đưa xe về Trung tâm sửa chữa là 1,5 tr.

Xe về đến xưởng sửa chữa, mấy ông kỹ thuật viên ra mở nắp ca pô, rút cái cây thăm dầu máy và thăm dầu của hộp số ra xem rồi phán xanh rờn: "Xe của anh bị nước vào trong máy rồi". Được một lát thì anh phụ trách tư vấn – dịch vụ cùng với anh nhân viên bảo hiểm qua báo xe bị nước vào máy và vào trong hộp số bây giờ phải tháo máy và tháo hộp số ra để vệ sinh cho sạch lại không thì sẽ vỡ máy....blah blah blah...Tớ đếch tin, tớ lại gọi "cụ HardTop" để tư vấn, cụ bảo nước không vào được máy và hộp số đâu, ở ngoài HN anh làm nhiều xe bị ngập nước rồi, em cứ yên tâm. Tớ cẩn thận nhờ cụ HardTop nói chuyện với anh phụ trách tư vấn – dịch vụ - về phần kỹ thuật để đảm bảo chắc chắn là sẽ không cần phải bổ máy. Thế nhưng có lẽ vì làm dịch vụ nên mấy anh ở xưởng cứ vẫn giữ quan điểm cho rằng xe bị nước vào trong máy và hộp số mà bằng chứng là ở que thăm dầu của máy và hộp số có nước vào...Với sự tin tưởng vào trình độ và kinh nghiệm xử lý xe Huyndai của "cụ HardTop" tớ nhất quyết không chịu bổ máy, hộp số mà chỉ yêu cầu chỉ thay dầu máy và hộp số, sau đó thì vệ sinh sạch sẽ xe. Ký xong yêu cầu sửa xe thì tớ ra về.

Tối về nằm suy nghĩ: Tớ cũng rất tin vào việc không thể xảy ra chuyện nước có thể vào máy và hộp số, nhưng rõ ràng chuyện nước vào lẫn trong dầu máy và dầu hộp số khi xe bị đâm đầu xuống nước (như của tớ) hay ngập trong nước là điều có thể. Vậy thì không bổ máy, hộp số mà chỉ cần thay dầu như vậy liệu có đúng không? Rõ ràng "cụ HardTop" phải có cái lý gì đó khi cho rằng chỉ cần thay dầu máy và hộp số, nếu cẩn thận nữa thì đi vài ngày sau lại thay dầu máy và hộp số thêm 01 lần nữa là xong. Cuối cùng thì tớ đã hiểu ra, cái lý của nó là thế này: Khi xe lao xuống nước (hoặc ngập trong nước) thì việc đầu tiên bạn phải làm là tắt máy xe. Mặc dù khả năng ngăn nước xâm nhập vào máy xe ô tô là rất tốt nhưng rõ ràng là nước có thể xâm nhập vào dầu máy và dầu hộp số nếu cứ ngâm nước lâu. Việc tắt máy xe đi có nghĩa là bạn không cho động cơ hoạt động, nó cũng đồng nghĩa với việc ngưng chuyển dầu máy (có dính nước) đi làm mát và bôi trơn ở khắp động cơ và cô lập dầu máy cũng như dầu hộp số có dính nước ở nguyên tại khu vực của nó. Vì vậy, chẳng có lý gì mà nước có thể vào máy của bạn hay hộp số của bạn được cả, mặc dù bạn có thể nhìn thấy nước ở que thăm dầu máy cũng như dầu hộp số.

Kinh nghiệm của tớ được rút ra sau vụ này là:

- Ngay sau khi bị ngập nước xe ô tô, nếu có đủ thời gian thì bạn hãy tắt máy ngay rồi di chuyển người và tài sản ra khỏi xe.

- Khi xảy ra sự cố, sau những biện pháp cấp bách cần phải xử lý ngay để tránh thiệt hại về người và của thì việc tiếp theo bạn nên làm là hãy gọi đt cho người phụ trách bảo hiểm của mình. Nếu bạn thay đổi hiện trường (mà không có lý do chính đáng hoặc theo đúng quy định của bảo hiểm) thì bạn sẽ phải là người chi trả các hóa đơn chứ không phải Công ty Bảo hiểm.

- Bạn đừng quá tin vào những nhân viên kỹ thuật ở xưởng sửa chữa bởi nếu sửa chữa càng nhiều, thay phụ tùng càng nhiều thì họ càng có lợi, và tất nhiên, điều ấy không hẳn đã là tốt cho bạn và cho cả chiếc xe.

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009

Thúy Nga PBN vs showbiz Việt

Trước tiên phải nói ngay là tớ chưa xem cái Thúy Nga Paris By Night (PBN) mới nhất (hình như là số 98 mang tên Fly with us to Las Vegas).

Mới hôm rồi được đứa bạn tặng cho 01 cái đĩa DVD của Việt Nam mang tên "Việt Nam ca hát: Mẹ, Tôi và Em" - The Best of Huynh Phuc Dien. Xem xong cái đĩa này mới nảy ra cái ý định so sánh với chương trình mà Thúy Nga PBN dàn dựng và in sang DVD. Huỳnh Phúc Điền khi còn sống và cả cho đến nay vẫn được giới nghệ sỹ trong làng showbiz Việt coi là đạo diễn dàn dựng các show ca nhạc tốt nhất ở Việt Nam. Chương trình "Mẹ, Em và Tôi" của Huỳnh Phúc Điền đã quy tụ một dàn sao sáng những ca sỹ ở cả hai miền Nam Bắc, nào Cẩm Vân, Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh, Ngọc Anh cho đến Mỹ Tâm, Hồng Ngọc, Thanh Thảo, Hồ Ngọc Hà, Hiền Thục...Được coi là một chương trình ca nhạc của những DIVA Việt Nam. Ấy thế nhưng mà xem thì thấy đạo diễn chương trình "gò" nhiều quá, quá nặng nề khi chạy theo cái khuôn chủ đề "Mẹ, Em và Tôi" để rồi bày ra những màn trình diễn khó hiểu. Đã bị gò theo khuôn chủ đề của chương trình rồi nhưng thế chưa phải là hết, mỗi bài hát lại bị "gò" thêm một lần nữa với cách minh họa rất thô như kiểu: Cẩm Ly hát bài "Mẹ tôi" thì y như rằng là người mẹ tần tảo, ngóng chờ con như lời bài hát...Bố cục sân khấu và ánh sáng cho chương trình cứ tối mù tối mịt, nhiều lúc chả rõ mặt ca sỹ. Túm lại là chán toàn tập bởi hỏng mất phần nhìn, tàm tạm phần nghe, đau đầu phần ý tưởng...không mang lại cho tớ sự giải trí đúng nghĩa đen của nó.

Với Thúy Nga PBN thì khác. Thúy Nga có lợi thế khá nhiều trong phần đạo diễn sân khấu và ánh sáng bởi đội ngũ chuyên nghiệp và nhà hát hiện đại hỗ trợ gần như tuyệt đối mọi ý tưởng sáng tạo. Dàn ca sỹ của Thúy Nga dù có già nhưng cũng được bổ sung một phần với lớp trẻ Việt kiều và một vài ca sỹ trong nước bay sang. Hòa âm, phối khí và múa phụ họa của Thúy Nga thì thôi rồi, kính thưa các anh chị trong vũ đoàn ABC hay Hoàng Thông cứ gọi là xách dép chạy dài dài. Ấy nhưng có một điểm yếu chết người của Thúy Nga là họ đang mất dần đi lớp khán giả của mình mà không có sự thay thế hay bù đắp. Nói cho chính xác thì thực ra lớp khán giả xem Thúy Nga bây giờ lại chủ yếu là lớp khán giả trong nước xem qua DVD lậu (như tớ chẳng hạn). Tại sao vậy? Câu trả lời rất đơn giản: Năm 1975, vài trăm ngàn người Việt di tản qua Mỹ, Pháp, Canada. Đây là thế hệ thứ nhất của khán giả Thúy Nga (và Asia, Làng Văn...); 15 năm sau, những đứa trẻ ra đời trên đất Mỹ hay sang Mỹ (năm 1975) vào cái tuổi lên 5 lên 7 đã bắt đầu trưởng thành để trở thành thế hệ khán giả thứ hai của showbiz Việt tại Hải ngoại trong đó có Thúy Nga; 35 năm sau, vẫn còn đó những lớp thế hệ khán giả cũ của Thúy Nga nhưng những đứa trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên tại Hải ngoai giờ đây đã bắt đầu ít quan tâm đến showbiz Việt, họ hòa nhập thẳng với showbiz của thế giới nơi chúng sinh ra và lớn lên. Lớp trẻ này dần dần mất gốc Việt dù dòng máu họ mang trong người vẫn là Việt Nam. Suy nghĩ của họ trở nên gần với dân bản địa hơn, ngôn ngữ bản địa được sử dụng như là ngôn ngữ mẹ đẻ chứ không phải là tiếng Việt. Theo tớ, đây chính là lý do Thúy Nga FBN nói riêng và showbiz hải ngoại nói chung mất dần khán giả mà không có cách nào cứu gỡ. Lôi kéo ca sỹ Việt Nam sang hay bắt chước các show của nước ngoài như Celebrity Dancing cũng chỉ như là sự vớt vát mà thôi. Các ca sỹ Hải ngoại dần dần xin về nước, một công đôi việc vừa về thăm VN vừa tranh thủ chạy show hốt bạc. Thị trường VN mới thực sự là đất để các ca sỹ hải ngoại hốt bạc bởi khán giả trong nước đã được PR từ rất lâu thông qua hệ thống đĩa DVD lậu các chương trình của Thúy Nga. Thúy Nga PBN sống bằng gì? Họ sống bằng tiền bán vé, tiền bán DVD, CD và một phần hệ thống quảng cáo trên các sản phẩm của mình. Nhưng giờ đây họ sẽ phải suy nghĩ lại về điều đó vì thị trường ngày càng hẹp, lại bị cạnh tranh bởi các sản phẩm ở trong nước đưa sang. Trong khi đó, các sản phẩm của Thúy Nga không thể bán ở VN một cách chính thống mà chủ yếu là thông qua hệ thống làm lậu băng đĩa ở Huỳnh Thúc Kháng. Mà với hệ thống băng đĩa lậu này, chắc chắn rằng Thúy Nga PBN chẳng thể thu được lấy một đồng bạc cắc. Không có lời giải cho những bài toán trên thì việc phá sản Trung tâm Thúy Nga sẽ chỉ là vấn đề sớm hay muộn mà thôi.

Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, kể cả khi những Trung tâm Băng nhạc Hải ngoại như Thúy Nga bị phá sản thì cũng chẳng có gì chắc chắn là showbiz tại Việt Nam sẽ khá hơn, người Việt Nam sẽ được hưởng những chương trình ca nhạc có chất lượng hơn. Câu trả lời cho vấn đề này lại nằm ở một chỗ khác.

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009

Chuyện vợ hai

Cả ngày hôm nay bỏ việc cơ quan đi giải quyết vụ "chạy thuế" và đăng ký xe. Nói là "chạy thuế" nhưng dùng đúng từ ngữ của nó là nộp "lệ phí trước bạ" cho cái xe ô tô mới mua. Không nộp sớm thì sang ngày 01/01/2010 sẽ bị tăng lên 10% thay vì là 5% hay đơn giản hơn với cái xe ô tô của mình thì nếu nộp sau ngày 31/12/2009 sẽ mất đứt 19 tr.

Ban đầu khi có ý định mua xe đã bụng bảo dạ là mua Getz. Sau khi sang "sâu" coi thì vợ cả thấy i10 của Huyndai đẹp hơn, rẻ hơn nên lại quay sang ý định i10. Lượn lờ khắp website và "sâu" để so giá. Có con i10 nghe đến là rẻ hơn con ở "sâu" mà mình coi đến 20-30 tr nhưng lúc tới nơi coi thì đếch có trợ lực tay lái. Thời buổi này mà không có trợ lực tay lái thì tay to nhanh lắm. Thôi, em kiếu. Rồi, quyết định đặt tiền mua i10. Bực mình với bọn "sâu", đặt mua xe từ tháng 10, nó hẹn tháng 11 lấy xe nhưng sang đến tháng 11 thì nó bảo xe anh đặt chưa về được và chưa biết bao giờ mới về. Thôi anh lấy xe khác đi. Thì biết làm sao bây giờ, lại quay lại với lựa chọn ban đầu là em Getz. Tất nhiên là phải tranh thủ mắng bọn sâu một trận. Nhờ anh em bạn bè kiếm số đt của mấy anh TGĐ và Phó TGĐ Huyndai Thành Công để kiểm tra cho chắc chắn là không có xe (phòng trường hợp sâu nó bán đứng mình vì biết đâu có thằng khác trả cao hơn chút nó lấy xe của mình đem bán?). Lấy Getz thì rõ rồi, nhưng mà cần phải down giá. Nếu mà tớ mua Getz từ tháng 1o thì tớ đã có xe rồi, giờ mất 01 tháng chờ đợi mà cuối cùng tớ vẫn phải lấy xe với giá như vậy là không ổn. Sâu bớt cho 5 tr, cò kè thêm tí nữa bớt tiếp 3tr. Một bác Huyndai Thành Công gọi vào, thế là bớt thêm được 2 tr nữa, tổng cộng được giảm giá 10 tr so với giá ban đầu. Hôm qua, cầm giấy tờ Hải quan của xe mà bọn sâu nó đưa mới biết, giá bọn nó mua của Huyndai Thành Công là 373 tr, bán cho kháchvới giá 393,5 tr, bán cho mình giá 383 là vẫn còn lời được 10 tr :)

Thiệt hại nhất có lẽ là ông bà nội. Vì thấy kêu gào các cháu đi nắng về mưa cần phải mua xe nên cho tiền mua. Ban đầu thì xin có 200 tr, sau một hồi ngắm nghía thì 200tr chả mua được con nào mới, lại xin lên 300tr. Cuối cùng chốt giá thành 400tr :)

Phải công nhận là bây giờ kính thưa các loại thủ tục hành chính đã rất nhanh chứ không đến nỗi "hành là chính" như báo chí vẫn kêu ca. Nộp lệ phí trước bạ mất khoảng 1h30 phút tại Chi cục thuế Quận. Lên Phòng CSGT nộp hồ sơ, cà số khung số máy cho đến lúc cầm biển số chỉ khoảng 1 tiếng. Chiều chạy qua đăng kiểm Bình Triệu mất khoảng 1 tiếng nữa. Vậy là tạm ổn, có biển số, có đăng kiểm chạy vi vu. Một tuần sau quay lên CSGT lấy cà vẹt xe và quay sang đăng kiểm lấy sổ đăng bộ là hoàn chỉnh.

Nói chung là bây giờ có thể vi vu trên phố rồi nhưng để chở con đi học thì phải chờ vợ sát hạch nữa. Nhưng ngán nhất là cái khoản nuôi vợ hai. Đơn giản là chắc chắn mỗi tháng sẽ phải chi thêm 1 tr nữa cho tiền đổ xăng và gửi xe ở chung cư. Chưa biết phải kiểm ở đâu ra đây nữa...hu hu

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Câu chuyện phiên âm trên báo chí

Gần đây thấy chị Cầm họ Phan (nhưng tên đệm đếch phải là Lương) và bác Hà Nguyên cứ "gầm gừ" cái vụ phiên âm trên báo chí. Tớ thì không phải chuyên gia về ngôn ngữ học nên cũng chả dám lạm bàn nhiều nhưng theo tớ thì sẽ cần phải có một sự đầu tư nghiêm túc về thời gian và công sức thì mới có giải pháp khả thi. Không chỉ đơn giản bê nguyên chữ Tây mà xong bởi có những thứ chữ Tây rắc rối như giun như dế, chả nhẽ cứ lấy bọn Anh bọn Mỹ làm chuẩn? Rồi còn cách đọc cho bà con nhà ta nữa chứ....cũng rắc rối phết đấy ạ. Tớ nhớ là lâu lâu rồi có bài của bác Danh Đức viết về vụ phiên âm mà giờ tìm lại không được. Thôi thì post tạm cái bài "Loạn phiên âm" của bác Minhlq lên đây để các bác thấy cái sự phức tạp của phiên âm.

LOẠN PHIÊN ÂM

Trong bối cảnh không có chuẩn nào về phiên âm, may lắm thì có vài cơ quan báo chí ra quy định riêng (tuy không phải lúc nào cũng được các biên tập viên nghiêm chỉnh thực thi). Hình như các cơ quan “chính thống” như TTXVN, báo Nhân Dân hay Quân đội Nhân dân thì “chơi” kiểu phiên âm có gạch nối, các báo khác thì cứ nguyên chữ Tây mà... phệt.

Nguyên tắc chung là thế, nhưng ngay như trong đại bản doanh của TTXVN chúng tớ cũng mỗi ban mỗi kiểu. Chẳng hạn tin dịch của Ban Tin Kinh tế thì cứ để nguyên tên riêng, còn tin dịch “phổ biến” của Ban Thế giới thì khá quán triệt vấn đề phiên âm, tuy nhiều khi nghe hơi tức cười vì... ứ thống nhất tí nào, thậm chí nhiều khi còn sai. Lin-zi với Lin-xi (Linsey), Tếch-dát với Tếch-dớt (Texas), Ca-li-pho-ni-a với Ca-li-phoóc-ni-a (California) là những cái lỗi quá vặt, nhỏ như con thỏ. Ngay cả khi phiên âm tương đối đúng thì nhiều chữ nhìn thật ngô nghê: Đê-la-oe, Gơ-ri-phít, Tờ-ri-pô-li, Chư-cư-ba, Kếp Thao chẳng hạn. Hic, hic...

Không ít người kêu gọi giữ tiếng Việt trong sáng và phất cờ kêu gọi thực thi triệt để trong cả “khoản” phiên âm. Nghe thì cũng hợp lý bởi xét tình hình dân trí chung, nếu cứ để Vajpayee, Chicago, Chrysler... thì quá bằng đánh đố bà con. Nhìn loáng thoáng thì không sao, bảo đọc lên thì ối người tắc tị. Ngay cả chúng ta, tự dưng có người hỏi “Chicagô” hay “Sicagô,” “Đilân” hay “Đailân” mới đúng thì chắc cũng mất kha khá thời gian suy tưởng. Nhưng nói cho mà biết là sẽ có nhiều rắc rối kèm theo: Ví dụ điển hình là lâu nay chúng ta quen gọi “nước Mêhicô” nhưng cái thành phố quỷ quái lại là “Mexico City”, chẳng lẽ bây giờ phiên âm ra là “Mêhicô Xiti.” Không được! Và thế nào cũng có người hỏi: “Cùng một chữ Mexico, tại sao lúc thì phiên là x, lúc thành h.” Tịt ngòi luôn? Chưa kể là cùng 1 chữ nhưng Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc phiêm âm khác nhau – nghe người Nhật nói thế (chữ “Lee”), chưa được ai xác nhận lại điều này – thì càng hóc búa hơn.

Mà không phải là TTXVN chúng tớ không có người thích để nguyên chữ Tây, mỗi tội là người thì thích dùng tiếng Anh, kẻ lại ưa tiếng Pháp. Vậy mới chết dở! Tưởng Eltsine là ai, hóa ra ông béo Yeltsin, Cisjordan thì thật ra ta vẫn gọi là Bờ Tây sông Jordan. Nhiều vị vẫn nhất quyết viết là Iraq hay Israel tuy anh em đều viết là Irắc và Ixraen.

Phiên âm như TTXVN lâu nay có ổn không? Có một chức năng của tin TTXVN là cung cấp cho đài truyền hình và phát thanh, và thực tế rõ ràng là nếu không phiên âm thì nhiều đồng nghiệp xướng ngôn viên không biết đọc thế nào. Nhưng nếu chỉ để phục vụ tầng lớp “ngại nhìn chữ Tây” thì trong thời buổi hội nhập quốc tế hiện nay, tin của chúng ta sẽ đầy những Gơ-rin-xpan, Gô-ran-xơn, Van Nít-xtơ-roi, Che-ni trông thật lủng củng. Và nhiều chữ phiên âm xong trông... lạ hơn để nguyên.

Thêm vào đó, tiếng Việt hiện đại không dùng dấu gạch nối trong một chữ. Bây giờ chẳng ai viết Hà-nội hay Hải-phòng như hồi đầu thế kỷ trước. Từ phiên âm tiếng nước ngoài nói chung cũng thế, trừ tin phổ biến của TTXVN phát ra và tin trên báo Nhân dân. Đến 85-90% những chữ để gạch nối như vậy chỉ tổ làm cho dài dòng. Bỏ quách đi là hay nhất. Nhưng cũng phải nói luôn là trong cái hay cũng có cái dở: những chữ phiên âm có nhiều nguyên âm cạnh nhau mà không có gạch nối thì thế nào cũng bị đọc nhầm. Đêlaoe mà lại đọc thành “đê-lao-e”, Xuraoan thành “xu-rao-an” thì hỏng, Boócneo mà lại thành “boóc-neo” thì... teo.

Vậy để nguyên chữ Tây có phải là phương án khả thi? Xem ra số đông các báo đang theo cách này - khỏi cần suy nghĩ, cứ nguyên chữ của Tây mà “choảng”. Nhưng thực ra không đơn giản chút nào vì khó có thể thống nhất lấy tiếng Anh hay tiếng Pháp làm chuẩn. Kể ra vài chữ cho chư vị tranh cãi nhé: nên viết là Palestin hay Palestine, Thủ tướng Qorei hay Qureira, Tổng thống Kaddafi, Khadafi, hay Qadhafi? Ngay như tên riêng đã quá quen lâu nay như Mátxcơva cũng bắt đầu bị bỏ để viết bằng Moscow, nhưng có người lại thích viết thành Moscou thì... giết người ta à?

Thôi thì đề ra quy định nước nói tiếng Anh thì viết chữ tiếng Anh, nước nói tiếng Pháp thì theo chữ tiếng Pháp vậy, nhưng những nước dùng ngôn ngữ khác, nhất là những thứ tiếng như giun như dế thì “làm thế nào đây hả Giời.” Chẳng nói đâu xa, chữ Tây để viết tên các bác cao cấp bên Lào thì ít ra đã quen, nhưng mấy cái xã, huyện nhỏ hay hợp tác với Việt Nam và phải đưa tin thì viết thế nào, nếu không tự tin thì kiểm chứng với ai? Quá mệt!

Nếu tên riêng nào cũng như là chữ “Iran” thì tốt quá, khỏi phải cãi nhau, mỗi một kiểu viết. Nhưng đã không được như thế thì phải tìm ra một con đường chung khả dĩ. Xét cho cùng, mỗi tờ báo không có cách nào khác là phải làm một cuốn Style Guide để ít nhất thì cũng thống nhất trong phạm vi tờ báo của mình: như thế nào thì phiên âm, phiên âm như thế nào. Đương nhiên, việc lập ra các tiêu chuẩn nội bộ cũng không thể phớt lờ những gì đang phổ biến bên ngoài. Nhiệm vụ bất khả thi – song vẫn phải làm./.

(Nguồn: VJ)


Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Báo Tuổi Trẻ đưa tin sai

Tò mò về thông tin Nông trường Sông Hậu 02 lần được Nhà nước trao tặng Anh hùng Lao Động, ông Trần Ngọc Hoằng và bà Trần Ngọc Sương cũng đều được trao tặng Anh hùng Lao Động trên báo chí, tớ thử tìm qua Google xem mốc thời gian của 04 lần Anh hùng như thế nào. Tình cờ vớ ngay 01 bài viết của báo Tuổi Trẻ:

Nông trường Sông Hậu được hai lần tặng danh hiệu Anh hùng lao động vào năm 1993 và 1998. Ông Trần Ngọc Hoằng được tặng danh hiệu Anh hùng lao động vào năm 1995 và bà Trần Ngọc Sương được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu này vào năm 2000.
(Nguồn: Báo Tuổi Trẻ Tp.HCM)

Chưa hoàn toàn tin vào kết quả trên, tớ tìm đến website của Nông trường Sông Hậu thì lại có một cột mốc khác:

Chưa có đơn vị nào trong 15 năm lại được vinh dự được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lao động đến 4 lần như Nông trường sông Hậu, tỉnh Cần Thơ. Lần thứ nhất, sau 6 năm thành lập, Nông trường đã trở thành điểm sáng tiêu biểu của hệ thống nông trường quốc doanh, được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động . Lần thứ hai, ngày 14-01-1993, nguyên Giám đốc Nông trường Trần Ngọc Hoằng được tuyên dương Anh hùng Lao động. Lần thứ ba vào năm 1999, Nông trường sông Hậu tiếp tục được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động lần thứ hai. Mới đây, ngày 13-9-2000, chị Trần Ngọc Sương, giám đốc Nông trường sông Hậu lại được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.


(Nguồn: Website của Nông trường Sông Hậu)

Nông trường Sông Hậu được chính thức thành lập vào tháng 4/1979, như vậy lần đầu tiên được tặng thưởng Anh Hùng Lao Động của Nông trường phải là năm 1985. Không hiểu báo Tuổi Trẻ lấy đâu ra những cột mốc lạ lùng ở trên nhỉ ?

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009

Hàng hiệu, biết gì ghi nấy

“…Tiền công may một áo sơ mi xuất khẩu chỉ 1 USD, bằng 2-3% giá bán là 30-50 USD. Tiền công may một bộ vét tông xuất khẩu chỉ 6 USD, so với giá bán 300 tới 600 USD chỉ chiếm từ 1 đến 2%...”, bạn có đọc những đoạn này vào ngày 19/11 năm ngoái trên mặt báo?

Thưa thầy kính mến, 50 USD thầy có thể mua được khoảng 3 chiếc áo sơ mi ở Robinson bên Sing, loại 60% cotton và chỉ 1 ply, và tất nhiên vào dịp sale off năm 2 lần với những brands loàng xoàng đính vào cho có mác. Còn 2 ply, 100% bông, new arrival ở Takashimaya hay trong các boutiques của Paragon thì phải ít nhất là 3 ông Grant. Vét tông xuất khẩu thì tùy, gặp đợt clear stocks thì chỉ 1 bác Franklin thôi cũng được, nhưng với 600 đô thì em chắc không dám chạm tay vào mấy cái ve áo loại tầm tầm Brooks Brothers để xem cái chất liệu len làm 100% lông cừu nó mềm, mát, mịn thế nào và chắc cũng chỉ “ực” một cái rồi cắm cúi đi ngang Dunhill shop. Ấy là em chỉ dám nói về hàng “ready wear” mà cái tạng người Việt thế hệ sinh ra vẫn đang ùng, oàng như em khó kiếm được size nào vừa, còn “bespoke” thì có khi phải đến 5 lần số cao nhất thầy đề cập mới dám tự tin “ I’d like….”. Chưa hết đâu thầy, thấy có thấy bộ vét của anh Bill hay bác Bush mặc hôm lễ đón chính thức nó có “vừa vặn” hơn cái-của-nhà ta không, bọn Tây nó gọi là “Haute couture” thầy ạ, và em tò mò dò hỏi (cho biết mà thôi) thì thấy bảo giá một bộ kiểu hau-cốt-tơ ấy thường không dưới 5 chữ số. Kể cũng buồn thầy nhỉ, cả năm lăn lóc, lê lết làm culi chỉ đủ mua được bộ đồ lớn của người ta. Mà đấy là bọn em được chị Cúc bên Tổng Cục Thuế xếp vào nhóm có thu-nhập-cao nên phải thu bớt đi cỡ gần hai chục phần trăm kẻo (chắc là theo anh Ninh với chị Cúc) tiền nhiều quá lại sinh hư. Em cứ băn khoăn lương được-cho-là cao thế mà mấy năm vẫn chẳng đổi được xe, nhà may quá bố mẹ cho nên có chỗ tối chui vào sáng chui ra, bottom line cả năm nhìn mà cứ nghĩ tính nhầm hay ngân hàng chưa ghi Có khoản lương tháng 13+thưởng; thế mà sao các vị đầy tớ (level còn thấp hơn thầy vài ba bậc) thu-nhập-trên-sổ-sách chắc chắn chỉ bằng già (non) nửa của em thắt lưng buộc bụng chi tiêu kiểu gì mà kết-dư-cuối-kỳ nhờ bọn em chuyển ngân lậu sang bên kia nhiều thế ạ?

Thoạt tính thì đúng là vô lý thật, mẹ bố bọn Tây nó bóc lột đến tận xương sườn công nhân lao động ở mấy nước nghèo lấy công làm lãi như mình. Lòng tự ái dân tộc pha với tự mãn cá nhân “đế quốc, thực dân to nhất quả đất người Việt ông còn đánh được thì nhằm nhò gì ba cái chuyện làm-hàng”, thế nên một anh làm kim hoàn gốc xứ Thanh hoa tay rất khá tung ra một serial đồ trang sức như trâm cài đầu có gắn ruby giá để 5 ngàn, cây bút bi vàng 18K cẩn viên đá quý khắc dòng chữ CUU LONG trên nắp cài bút cũng quất gần chục ngàn Mỹ, logo nhang nhác Louis Vuitton với mấy chữ CL lồng nhau xiên chéo. Hình như me-xừ này khoái Kim Dung nên cửa hàng (phải gọi là boutique mới đúng độ sang) trên đường Đồng Khởi quận I Saigon ngoài cửa là 2 chàng vệ sỹ complete đen, kính đen chắp tay trước bụng trông hãi vãi, trong cửa kính mát rượi sáng choang là 2 em chân rõ dài váy cưới trắng tinh diện hết ngày này sang ngày khác. Thì tò mò cũng vào một cái cho nó biết thôi, chứ (giá thử) có tầm ấy tiền để mua thì vào béng nhà Catier cho nó yên tâm không “lúa” hay làm vài ba cái limited collection của Montblanc fountain pen đảm bảo không phải vừa viết vừa vẩy hay ghì bi vì mực tắc. Để đạt tầm hàng hiệu hình-như-là không hẳn chỉ bởi đắt tiền và dùng nguyên liệu quý???. CL không phải là ví dụ duy nhất đâu, một đại gia khác trong ngành tơ lụa kiêm địa ốc kiêm nhà hàng chơi xe RR đầu tiên ở Việt nam tự PR trên một tờ tạp chí về hàng Luxury “theo thống kê 60% người Việt nam dùng cà vạt của K, lụa dệt 4 lớp bí quyết riêng và cắt xéo…” . Ối giời, nhà ấy mà dệt lụa 4 lớp ở Việt nam để may cà vạt thì nhiều người đi đầu xuống đất, còn con số 60% kia thì nhừng các bạn đang đọc đoạn này thẩm định dùm.

“Khoe của, thừa tiền, dởm đời…”, sẽ có kha khá người đọc bình luận những câu đại loại vậy. Nếu bạn gạt lớp nước béo ấy đi, và xem hàng-hiệu cũng chỉ là một thú chơi kiểu một cây mai cổ đấu giá lên tới gần 1 tỷ cũng chỉ nở hoa vàng năm cách (sáu là cực hiếm, và năm ấy sẽ có rất nhiều sự may) vào dịp xuân về đâu khác gốc mai tứ quý bỏ rơm bỏ cỏ góc vườn vẫn nở hoa suốt cả năm; thì biết đâu đấy lại sẽ có thêm một vài con nghiện hàng hiệu mới. Người viết có biết một lão nghệ sỹ nhân dân bốn mùa chỉ độc diễn mấy bộ quần áo nhìn rất tuyềnh toàng nhưng bộ (chả biết sưu tập hay cũng chỉ thích thì chơi) bút máy với bật lửa của cụ nhìn mà khiếp đảm: Zippo bốn năm chục cái, St Dupont vàng ròng cũng có, Dunhill không vắng mặt còn khoản viết thì có dễ vài chục cái Montblanc từ loại cổ điển tới ngôi sao đi bội đang nằm khiêm tốn cạnh Catier với Caran d'Ache. Tầm ông cụ chắc chả việc gì phải vướng vào mấy cái bình luận ở đầu đoạn này rồi, “tớ thích bút viết phải là dào dạt mực”, chả biết ông cụ nói đến loại bút nào đây??? Cũng lại một đôi lần có dịp đứng sau ngắm chủ tịch một hãng đóng tàu bậc nhất Việt nam mình ký mấy cái thỏa thuận về tài trợ vốn thấy đại ca này vẫn dùng một cái bút no-name, chủ tịch HĐQT tập đoàn kiểu này chắc chả thèm nhận tiền lẻ dưới dạng phong bì thì gì chứ “tuyệt tác của nghệ thuật viết chữ” chắc không bằng con muỗi; nhìn bộ gậy golf của bác là đủ choáng rồi; thế mà sao Montblanc hay Waterman không có được bác này trong danh sách khách hàng VIP nhỉ?

Cũng có những món hàng hiệu nghĩ nát óc chẳng hiểu được tại sao lại được xếp vào đồ luxury, tỷ như điện thoại Mobiado có khung làm từ thứ gỗ gì nghe nói hiếm lắm tới mấy chục ngàn đô la một khối. Tầm hơn 2 năm trước trong một dịp ngồi gần đại gia H “nùn” một trong số 100 người giàu nhất Việt nam từ 2006 thấy bác ấy vứt đánh uỵch một cái vuông vuông, nâu nâu có hình con sư tử lên bàn thì cũng đánh bạo chạm thử vào xem nó ngô khoai thế nào mà tới mấy ngàn đô Mỹ lận. Vẫn nhớ màn hình đen xám nhờ nhờ, chức năng chả có gì khác cái N6230 hồi đó đâu độ vài ba trăm đô (để so sánh cho nó tiện về đơn vị tiền tệ chứ người viết vẫn quen cầm đũa hơn dao/dĩa và thấy muống luộc vắt chanh cốm ngon hơn chán vạn lần súp măng tây cua). Gỗ có đắt đến mấy thì đắt chứ đã cắt gọt làm đ.thoại rồi thì có như kim loại quý quái đâu để nấu ra tái chế, thế thì sao lại đắt và xếp vào nhóm luxury goods???

Chưa dùng hàng hiệu thì có khi lại chả sao, có rồi nhiều lúc lại thành chuyện tiếu đàm cho những người “sành” bình luận. Bật lửa Zippo thì ngon rồi (ghét cái phải châm đúng xăng của bọn zippo cơ, đổ cái khác là đếch bao giờ có lửa) nhưng giả tỷ là một bro nào đó ngồi cũng bàn trong một lounge hay club bỏ ra hộp xì gà mời, sau cái xoay xoay cắt đầu điếu thuốc mà chủ nhân của cái Zippo kia lại xoẹt một phát lửa ra châm thì chắc… vứt mẹ nó điếu xì gà đi được vì hơi xăng làm hỏng vị. Xì gà lại cứ phải dùng diêm, cùng lắm là anh bật lửa ga tàu vài nghìn một cái mới đôi lứa xứng đôi kiểu cọc cạnh như Tiên Dung với Chử Đồng Tử cổ tích một thời. Cũng chả mấy ai hút xì gà mà lại uống bia hay vodka hay Whisky dù có là với Giôn xanh thượng hạng, và tôi thì không hút thuốc nên cũng chả biết tại sao, chỉ thích ngắm khói xì gà xanh lơ rất dịu.

Khoảng hai chục năm về trước người Việt mình trong hành lý xuất khẩu lao động sang Đức, hay cả trí thức đi làm candidate ở CCCP đều có ít chục cái áo phông cá sấu nhập từ Thái về, mấy cái áo Nato, ít bộ Ki-mô-nô và không thiếu mấy cái quần bò coi như làm vốn. Hè dạo ấy mà mặc mấy cái áo pull cá sấu sọc ngang, diện thêm cái quần bò đi cái xe cuốc thì các em tha hồ mà xuýt xoa ngưỡng mộ. Rồi tự nhiên bặt đi cả chục năm không thấy áo phông cá sấu, các shop tràn ngập Addidas, Nike với CK. Vài năm nay lại thấy Lacoste tái xuất, đâu những gần trăm ngàn VNĐ một cái “hàng may xuất khẩu thừa, xịn đấy”. Áo sơ mi với thun Polo có logo hình con ngựa lông lên cũng nhan nhản với giá trên dưới trăm ngàn. Vợ đi vào mấy chỗ bán quần áo tiện tay mua cho chồng vài cái, thì mặc thấy nó cũng mát chứ chết Tây nào đâu. Túi xách/ví đầm in nhãn Channel, Catier, Gucci, Louis Vuitton, Hermes… thiết kế thì đẹp rồi nhưng bán ở Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh đắt lắm cũng chưa quá 500 tệ nên chị em mua cả chục cái về dùng, tặng cả mấy con bạn thân cho nó thêm bền tình cảm. Tụi Tây “sành” sống ở Việt nam nhìn cảnh ấy cũng chỉ biết lắc đầu. Nào đã có nhiều ai biết đâu một cái áo Lacoste thật được dệt từ gần 20km sợi (hai mươi cây số là chiều dài sợi vải của một cái Lacoste) và mặc ít khi dúm khuy cổ cuối cùng, giá bán của nó cũng khủng long, khoảng 8 lần hàng-xuất-khẩu-còn-dư và mặc thì mồ hôi có vã ra khi đánh vợt cũng không thấy dính. Hay Louis Vuitton chưa bao giờ có bán sales và chỉ bán hàng qua các boutique thuộc sở hữu của mình. Để tôi kể nốt chuyện này, thủ đô Phnom Pênh của Campuchia có một chợ tên tục là “Russian market” chuyên bán mấy thứ quần áo kiểu “may-xuất-khẩu-thừa/lỗi” dạng này, Tây ba lô đến đó cũng nhiều nhưng họ hình như rất ít mua, đám bán hàng gốc Miên nói tiếng Việt leo lẻo nhìn thấy người mình là đoán ra ngay “hàng xịn đấy, mua đi, rẻ lắm”. Cái thằng Tàu trông thế mà thâm, xoành xoạch cắt may ở Đại lục, shipped hàng sang Cao Miên lập lờ đánh lộn con đen để bán đến end-users người Việt vì tiếng hàng Tàu dân mình chán quá rồi.

Có một thứ “hàng hóa đặc biệt” của người Việt được xếp vào nhóm hàng luxury mà người viết đến giờ này vẫn còn thấy nhục, bạn đoán được ra điều gì không? Gần cuối năm ngoái tôi có một đợt đi vài tuần đến đất nước có số dân theo đạo Hồi lớn nhất Asean, theo đạo Hồi đấy nhưng bia rượu bán xả dàn và dù có là Islamic đi thì vẫn ngồi nhâm nhi món có cồn công khai chứ không lén lút thậm thụt sợ cảnh sát tôn giáo như mấy ông Pakistan hay Bangladesh. Hôm ấy việc cũng vãn, mấy thằng cả thổ dân cả ngoại bang rủ nhau đi xả hơi một tí sau bữa cơm chiều. Malioboro, tên cái complex ấy có đủ từ Fitness centre đến Whirpool, Bar & Restaurant, Theatre & Massage & Reflexi.. nói tóm lại là quý ông cần gì đây có tuốt. “Uzebekistan, Chinese & Vietnamese girl 1,250,000 rupi, local girl 500,000 rupi”, má mì gốc Tàu leo lẻo. Và ở Jakarta theo tôi biết thì không chỉ chỗ này mới có gái Việt nam.

Dân nghiện hàng-hiệu thường vẫn rủ rỉ với nhau “đồ bán ở Việt nam làm sao chất lượng bằng mua ở bên kia được”. Tôi không sành lắm về món luxury goods, chỉ thấy riêng nước hoa và mấy thứ mỹ phẩm của phụ nữ/đàn bà thì đúng là dù có bán ở Parkson hay các loại Plaza đúng là khác hẳn đồ xách từ nước ngoài về, nên cũng chỉ nghe để biết thôi, chả dám bàn nhiều. Và vì đức tin đã để ở bên bển mất rồi, vé tàu bay càng ngày càng rẻ nên chuyện tín đồ hàng hiệu cuối tuần bay sang đó mua sắm rồi về chả còn là chuyện lạ. Đi thì dễ rồi, visa bây giờ cũng chả cần ở đa phần các nước loanh quanh nhưng mua hàng hiệu bằng gì nhỉ thì lại là một chuyện khác rồi. Mua bằng tiền chứ bằng gì, hỏi vớ va vớ vẩn! Dạ thưa không ạ, ít ai mua hàng hiệu bằng tiền, dù là đồng Bảng Anh hay Euro rất mạnh.

(Bài sưu tầm trên mạng không rõ nguồn, đăng trên blog để giải trí cuối tuần)

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009

Sống và viết như những người lưu vong

Lưu vong, theo tôi, bao giờ cũng được mở đầu bằng một bi kịch chính trị và kết thúc bằng một bi kịch văn hoá. Càng ngày tôi càng thấm thía một điều: sống và viết ở hải ngoại không phải chỉ là sống và viết ở hải ngoại. Khi một nhà văn rời quê hương ra định cư và sáng tác ở nước ngoài, hắn không phải chỉ thay đổi một chỗ ở và một bàn viết mà còn thay đổi hẳn một thế giới với những mối quan hệ chằng chịt, phức tạp, để rồi, một cách tự giác hay không, dần dần thay đổi cách nghĩ, cách cảm, từ đó, cách viết và cuối cùng, không chóng thì chầy, thay đổi cả căn cước (identity) của chính hắn với tư cách là một nhà văn nữa.

Trước hết, trong quan hệ với đất nước, với người đang sống ở hải ngoại, quê hương chỉ còn là một nỗi nhớ mà nỗi nhớ nào thì cũng có khả năng biến mọi thứ thành quá khứ và mọi hình ảnh đều trở thành lấp lánh đẹp. Hơn nữa, nỗi nhớ nào, khi dẫn con người đi ngược chiều thời gian, cũng đều cắm neo vào một không gian nhất định: nhớ một thời, thực ra, bao giờ cũng là nhớ một nơi. Trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, chẳng hạn, không có nỗi nhớ nào lại không gắn liền với cảnh vật, với phong thổ, với các yếu tố địa lý. Trong tập Du côté de chez Swann của Marcel Proust, mặc dù nói là đi tìm thời gian đã mất (A la recherche du temps perdu), nhân vật chính chỉ loay hoay tìm kiếm mãi hình ảnh một cái làng, làng Combray. Bởi vậy, nghĩ cho cùng, văn học lưu vong nào cũng ít nhiều mang tính chất ‘miệt vườn’. Giũ bỏ tính chất ‘miệt vườn’ ấy bao giờ cũng là một thách đố lớn cần nhiều quyết tâm lớn và tài năng lớn.

Thoát ra khỏi ngục tù ở quê hương, tuyệt đại đa số người lưu vong, đặc biệt là giới cầm bút, thường rớt ngay vào nhà tù của trí nhớ. Nhà văn Mai Thảo, trong lá thư toà soạn nhân ngày kỷ niệm đệ nhị chu niên của tạp chí Văn tục bản tại Hoa Kỳ, năm 1984, đã viết, chân thành:

người chủ nhiệm tạp chí dẫu đã sáu năm trên đất này, dẫu đã hai năm Văn, vẫn không sao kiếm tìm được cho chính hắn một tâm thức ổn định. Mà tấm lòng vẫn trại đảo, suy nghĩ vẫn trôi dạt, ý niệm vẫn lưu đày. [...]. Người ta không thể sống hoài bằng trí nhớ. Hắn thừa hiểu vậy. Nhưng chân trời mới nhìn thấy nào cũng vẫn từ một chân trời trí nhớ. ‘Người ta chỉ có vĩnh viễn những gì đã mất đi vĩnh viễn.’ (Ibsen). Vậy sao? Chừng như là vậy thật. [...]. Tâm thức bất ổn định, chối từ thanh bình đưa dẫn tới hình thành một giòng văn chương từ chối mọi khí hậu mọi biểu hiện thanh bình cũng là tâm thức chung của hầu hết bằng hữu và những người viết mới đã tới với Văn từ tục bản.[1]

Là tù nhân của quá khứ, tâm lý lưu vong là một thứ tâm lý bảo thủ. Điều người lưu vong không thể cảm nhận nổi là ý niệm về sự vận động trên quê hương mình. Tôi hiểu lý do tại sao Từ Thức hay Lưu Thần, Nguyễn Triệu lại bàng hoàng khi từ thiên thai trở về quê cũ: chủ yếu là vì sự sai nhịp về thời gian. Sự sai nhịp ấy không xuất phát từ sự kiện ngày tháng ở cõi tiên dài hơn trong cõi tục mà xuất phát từ tâm lý khư khư ôm giữ những hình ảnh cũ của người xa xứ. Đối sánh với những hình ảnh hoá thạch ấy, thực tại nào cũng trở thành lạ lùng. Cũng gây kinh ngạc. Cũng khiến sững sờ.

Mất ý niệm về sự vận động, sự ra đi nào cũng có nghĩa là một sự dừng lại. Hồi ở Pháp, gặp một số đồng hương gốc Quảng Nam đã ở Pháp hàng ba, bốn chục năm, và suốt ba, bốn chục năm ấy chủ yếu sử dụng tiếng Pháp, tôi kinh ngạc nhận thấy giọng Quảng Nam của họ thuần chất đến độ rất khó tìm thấy trên đất Quảng Nam sau này: trong khi suốt mấy chục năm vừa qua, người dân ở Quảng Nam có vô số cơ hội để tiếp xúc với những giọng nói khác, ngoài xã hội cũng như qua hệ thống truyền hình và truyền thanh, để tính chất địa phương trong giọng nói của họ càng ngày càng nhạt đi, những người đã đi du học từ lúc 17, 18 tuổi, hoàn toàn không có những tiếp xúc như thế, không hề chịu bất cứ ảnh hưởng nào từ bên ngoài. Giọng nói của họ là một thứ giọng địa phương nguyên chất. Trong lãnh vực văn học cũng có hiện tượng tương tự. Nhiều người, sống lâu năm ở nước ngoài, về phương diện xã hội, rất hiện đại và rất Tây phương, nhưng khi cầm bút, từ cảm xúc lẫn ngôn ngữ của họ đều thấp thoáng rất nhiều hơi hướm của Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn, những trào lưu thịnh hành hoặc còn nhiều vang bóng lúc họ chưa rời Việt Nam. Ngay cả ở những người tài hoa nhất trong họ, nếu may mắn thoát khỏi hiểm hoạ của cái sáo thì cũng có cái gì đó cổ kính, điều rất hiếm thấy ở những người cùng lứa tuổi và cùng tầm nhận thức đang sống trong nước. Từ kinh nghiệm này, chúng ta không nên khinh thường nhận xét đã được nhiều người phát biểu: văn học hải ngoại là cánh tay nối dài của văn học miền Nam trước năm 1975. Nếu điều đó chưa phải là một hiện thực thì ít nhất nó vẫn là một nguy cơ.

Nguy cơ rõ nhất và cụ thể nhất là việc tiếp nhận cái mới trở thành vô cùng khó khăn dù về phương diện khách quan, chúng ta có đầy đủ tất cả những điều kiện cần thiết khiến những người trong nước phải thèm thuồng. Ngoái về quá khứ, các cây bút lưu vong ít khi đóng được vai trò tiên phong. Nếu ví nền văn học hay văn nghệ hải ngoại nói chung với một trận bóng đá, thì đó là một trận bóng thường chỉ có các hậu vệ và thật nhiều thủ môn, ở đó chiến thắng được tính bằng những lần bắt bóng chứ không phải bằng những lần làm bàn. Một trận đấu kì dị. Quái gở. Và tuyệt vọng.

Mối quan hệ với quê gốc như thế làm cho quan hệ giữa những người lưu vong với miền đất mới định cư trở thành vô cùng gian truân: chúng ta bị phân thân giữa quê cũ và vùng đất mới, giữa tình cảm và lý trí, giữa quá khứ và hiện tại, giữa hoài niệm và hoài bão. Chúng ta đầy mâu thuẫn: chúng ta vừa sùng bái Tây phương lại vừa sợ bị Âu hoá; chúng ta vừa hết lời ca ngợi truyền thống văn hoá dân tộc lại vừa không ngớt đay nghiến, bỉ thử nếp sống đậm màu sắc truyền thống của cộng đồng người Việt ở khu Bolsa bên Mỹ, khu Paris 13 bên Pháp hay khu Cabramatta và Footscray ở Úc; đối diện với người ngoại quốc, chúng ta khăng khăng muốn làm một người Việt Nam, nhưng khi đối diện với đồng bào của mình, chúng ta lại cứ muốn làm người... nước ngoài. Chúng ta thường nghi kỵ một cách quá đáng những nhà văn viết bằng tiếng Việt chịu ít nhiều ảnh hưởng của Tây phương dù đó là những tài năng lớn trong khi chúng ta lại vồ vập một cách quá đáng một số cây bút trẻ viết thẳng bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, dù chưa có gì hứa hẹn đó sẽ là những tài năng thực sự.

Hậu quả của sự phân thân ấy là những người lưu vong bị biến thành những người đứng bên lề. Với sinh hoạt văn học trong nước, chúng ta là những người đứng bên lề. Dù tài hoa đến mấy, vẫn là những người bên lề. Với sinh hoạt văn học ở quốc gia chúng ta đang sống, chúng ta cũng lại là những người đứng bên lề, một thứ nhà văn sắc tộc khiêm tốn và buồn thảm, đứng bên lề những sinh hoạt chính mạch của thiên hạ. Do đó, có thể nói, không có ai cô đơn cho bằng nhà văn lưu vong. Cách đây mấy năm, một số người cầm bút ở hải ngoại hô hào phá bỏ những ghetto trong sinh hoạt văn học. Ừ, thì phá bỏ. Nhưng chưa ai đặt câu hỏi: phá bỏ những ghetto-việt-nam ở hải ngoại rồi thì giới cầm bút sẽ đi đâu, sẽ nhập vào đâu?

Nhập vào văn học thế giới ư? Ai mà chả muốn. Nhưng đó là một con đường hết sức cheo leo. Một là, để sử dụng một ngoại ngữ như một ngôn ngữ văn học (chứ không phải một ngôn ngữ giao tiếp) không phải là một điều dễ. Nhà thơ Joseph Brodsky, giải Nobel văn chương năm 1987, sau mấy chục năm ở Hoa Kỳ, khi viết tiểu luận thì viết bằng tiếng Anh nhưng khi làm thơ thì cũng vẫn tiếp tục làm bằng tiếng Nga rồi người khác dịch ra tiếng Anh. Hai là, sau hàng rào ngôn ngữ là hàng rào văn hoá. Bất cứ cộng đồng ngôn ngữ nào cũng hà tiện khả năng đồng cảm và bộ nhớ của nó đối với những người ngoại tộc, bởi vậy, ở đó, kiếm được độc giả đã khó, kiếm được những độc giả tri âm lại càng cực khó. Tôi có một số bạn bè người Úc đã đọc và rất thích Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài qua các bản dịch tiếng Anh, thế nhưng, có khi chỉ một vài tháng sau, trong những lúc tán gẫu, tình cờ tôi nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, họ có vẻ ngơ ngác, phải đợi giải thích thật chi tiết, họ mới nhớ ra đó là những tác giả họ từng ái mộ. Ngược lại, tôi cũng gặp không biết cơ man nào những người Việt Nam cứ hễ nhắc đến văn chương Việt Nam đương đại là nhắc đến Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp, có khi để khen ngợi mà cũng có khi để đả kích, mặc dù, theo sự ước đoán của tôi, may lắm họ chỉ đọc loáng thoáng đâu đó một hai truyện ngắn của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp là cùng. Bởi vậy, tuy người Việt Nam nào cũng thèm thuồng khả năng viết tiếng Pháp của Nguyễn Tiến Lãng hay của Phạm Văn Ký nhưng thành thực mà nói, tôi tin là ngay cả một nhà văn Việt Nam trung bình cũng có nhiều tri âm hơn hai người ấy. Đi vào một sinh hoạt văn học không phải của dân tộc mình, người ta, nếu không phải là một đỉnh cao thì rất dễ có khả năng sẽ không là gì cả ngoài cái việc được đăng tải và được xuất bản.

Mà đỉnh cao bao giờ cũng là những ngoại lệ. Số lượng những nhà văn sử dụng song ngữ thành công trên thế giới chỉ là hoạ hoằn, dù con số thử nghiệm có thể lên đến hàng chục ngàn, thậm chí, hàng trăm ngàn. Còn lại, tuyệt đại đa số, dù muốn hay không, cũng làm tù nhân chung thân của tiếng mẹ đẻ của mình, cũng chỉ quanh quẩn trong sân chơi nho nhỏ của cộng đồng mình, và đứng bên lề những hội hè, đình đám văn nghệ quốc tế.

Dĩ nhiên, chẳng ai vui gì cái cảnh đứng bên lề. Bởi vậy, phần lớn những người cầm bút lưu vong hay bị day dứt cái mặc cảm tự ti, không những tự ti với dòng văn chương chính mạch ở quốc gia mình định cư mà còn tự ti với cả dòng văn học chính thống ở cố quốc. Chính từ những mặc cảm tự ti ấy, bao nhiêu thần tượng giả đã ra đời. Trong cách cảm thụ và cách đánh giá văn học của phần lớn người cầm bút hải ngoại, đặc biệt là đối với văn học nội địa, tôi thấy thấp thoáng cái mặc cảm của những chú lùn. Tội.

Sống và viết lách bên lề, những cây bút lưu vong tìm vui trong cái cộng đồng nhỏ bé, càng ngày càng nhỏ bé của mình. Đã nhỏ bé, lại còn lạnh lẽo nữa. Trong sinh hoạt văn học hải ngoại, có lẽ trừ các chủ bút, không có người cầm bút nào có được sự tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên và cụ thể với độc giả. Và cũng không ai cần độc giả: sách, báo thường bán không được bao nhiêu; mà cho dù bán được khá thì cũng không đủ nuôi người cầm bút. Đáng lẽ sự kiện này có thể giúp nhà văn trở thành độc lập và dễ trở thành độc đáo. Sự thực ngược lại: phần lớn cứ đứng nem nép vào nhau. Điều đó khiến nền văn học lưu vong có nét gì hao hao nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa: cả hai đều có tính tập thể rất cao.

Sự kiện đứng bên lề và sự kiện xa cách tuyệt đối với độc giả khiến khái niệm ‘danh vọng’ trở thành hão huyền: ngay cả những người xuất sắc nhất trong chúng ta cũng chỉ ‘nổi tiếng’ trong một phạm vi thật nhỏ, chủ yếu với một nhúm bạn bè và những người quen biết. Theo tôi, đây là lý do chính giải thích hiện tượng tại sao có một số cây bút rõ ràng là có tài năng nhưng chỉ đến với văn chương một thời gian ngắn rồi chia tay không một chút luyến tiếc. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, trong bài "Triển vọng của văn học hải ngoại", đã từng ngạc nhiên trước hiện tượng này. Ông tự hỏi: "Vì sao thế?" Rồi ông nói thêm:

Tôi hỏi, vì biết cái ma lực của chữ viết, nhất là lúc đã thành chữ in và tới được tay bạn đọc. Chữ viết trên bản thảo định hình được những điều mông lung rối rắm chất chứa trong lòng tác giả, những điều tác giả tưởng đã biết rõ nhưng thực ra không biết nhiều, đến nỗi khi thành chữ, chính tác giả cũng kinh ngạc ngỡ ngàng. Từ chữ viết dập xoá trên bản thảo sang chữ in ngay ngắn trên trang sách, lại có sự biến ảo kỳ diệu khác. Tiếng vọng từ phía bạn đọc mang cho tác giả những dư âm đa dạng kỳ thú (hay kỳ dị), đưa cả tác giả lẫn tác phẩm vào một cuộc phiêu lưu mới. Những đợt sóng ấy tiếp nối, đợt sau đẩy đợt trước, người cầm bút miên man hết cuộc phiêu lưu này đến cuộc phiêu lưu kia, thấm thoắt theo nghiệp văn vài chục năm lúc nào không hay.[2]

Trong câu hỏi của Nguyễn Mộng Giác đã có sẵn câu trả lời. Thời ông cầm bút ở Việt Nam, những tiếng vọng liên tục từ phía độc giả có khả năng tạo nên những "dư âm kỳ thú (hay kỳ dị) đưa cả tác giả lẫn tác phẩm vào một cuộc phiêu lưu mới." Còn ở hải ngoại thì làm gì có những tiếng vọng như thế? Ở hải ngoại, đăng một bài viết trên báo hay in một cuốn sách, nhiều lúc ngỡ chừng như nói vào ống điện thoại chưa nối đường dây. Lặng ngắt. Không nghe gì cả, kể cả một lời chê, một tiếng chửi, cũng không có. Hoàn toàn lặng ngắt.

Viết văn, ngày xưa, là một danh phận; sau này, vừa là một danh phận vừa là một nghề nghiệp. Ở hải ngoại, viết văn không thể là một nghề nghiệp mà trên thực tế, cũng không còn là một danh phận. Viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực.

(Nguồn: Tienve.org)

P/S: Thấy cái bài này trên blog BEO hay nên tìm bài gốc đăng lại nguyên văn.