Thứ Ba, 5 tháng 6, 2007

Một thế giới Phật giáo đa dạng và đầy màu sắc trong cuốn sách "Đạo và Đời" của Trần Việt Văn


Sau triển lãm ảnh tại Hà Nội từ ngày 12 đến 18/12/2006 thì cuốn sách ảnh "Đạo và Đời" là một sự tiếp nối của dự án nhiếp ảnh mô tả thế giới của đạo Phật ở Việt Nam của Việt Văn (phóng viên báo Lao Động). Để có được những bức ảnh trong cuốn sách này, từ năm 2003 tác giả đã đến rất nhiều chùa từ Bắc vào Nam, tiếp cận các nhân vật trước khi quyết định bấm máy. Với góc nhìn của người làm báo, Việt Văn đã khéo léo khai thác những góc nhìn rất "Đời" của Đạo Phật.

Giới thiệu về dự án của mình, Việt Văn đã viết: "Cuộc sống của các nhà tu hành là một thế giới riêng mà sự xâm nhập, tiếp cận của người thường gần như là bất khả thi. Nhưng trí tò mò, sự kiên nhẫn và một chút may mắn đã giúp tôi đi vào thế giới đó và nhận ra nhiều điều thú vị. Chưa bàn tới mô hình tổ chức trong một ngôi chùa, chỉ riêng những ngôn từ của nhà tu hành đã rất khác lạ so với đời thường. Chỉ một từ “A di Đà Phật” đã thay cho lời chào, lời xin phép, thăm hỏi và mở đầu một sự “cho” và “nhận”. Những tăng ni khi vào chùa là thoát khỏi tục lụy, tuân theo Ngũ giới: không sát sinh, nói dối, uống rượu, trộm cắp, tà dâm. Nhưng để lên cõi Niết bàn, quá trình tu tập thật gian khổ và nghiệt ngã mà không phải ai cũng trí-nhẫn để tới miền an lạc.Vì con người vẫn luôn là con người. Qua ống kính máy ảnh, tôi đã nắm bắt được những khoảnh khắc tuyệt vời mà ở đó cuộc sống hiện hữu với tất cả sự đáng yêu và sắc màu đa dạng của nó. “Thế giới” bên trong những ngôi chùa và cuộc sống xô bồ nhộn nhạo ngoài kia có một sợi dây nối kết không chỉ về mặt tâm linh mà về những điều nhỏ nhặt nhất của đời thường..."

Các bức ảnh trong cuốn sách được trình bày theo một kết cấu riêng, khi là những câu chuyện nhỏ, khi là những bức riêng lẻ theo những chủ đề cụ thể: Vô lượng nghĩa, Đất Phật, Nguyện Cầu, Sắc và Không, Tập đế, Vô thường, Bất diệt...

Sách dày 200 trang, khổ 20cm x 30 cm, được trình bày sang trọng do Nhà xuất bản Thông tấn ấn hành với sự hỗ trợ của Phái đoàn Uỷ ban Châu Âu tại Việt Nam.

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2007

Entry for May 27, 2007

BUỒN...CHÁN...MỆT MỎI...

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2007

Vô đề 4


Em ném về phía cuối con đường
Nỗi đợi chờ
Khắc khoải
Em ném mình vào hoang dại
Nhặt về đơn chiếc bơ vơ


Em ném mình vào ngày xưa
Ký ức nhặt về rạn vỡ
Em ném mình vào quá khứ
Của những ngày dài
đơn côi

Em ném mình vào biển khơi
Nhặt về rong rêu sỏi đá
Em ném mình vào băng giá
Nhặt chút hơi tàn mùa đông
Em ném mình về phía bão giông
Mong gặt được mùa hạnh phúc
Em ném mình vào ký ức
Hạnh phúc mong manh vỡ òa
Em ném mình vào khổ đau riêng em
Tìm tình yêu sót lại
Có ai nhặt giùm em?

Và
em
ném vào tâm hồn anh
một con rắn
một con chim
một nụ hôn ở phía chân trời./.

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2007

Cái bàn nơi góc quán dưới tàn cây

Như bài học về tình bạn và sự quen nhau mà con chồn đã dạy cho Hoàng tử bé, tôi đến gần chỗ ngồi bên cạnh gốc cây. Bắt đầu bằng buổi sáng những trái sapôchê nhỏ xíu rơi loay quanh mặt đất. Phía trước là một mái hiên lúp xúp những tán khế xanh và líu ríu sẻ nâu. Ngồi ở đây, có khi chẳng nói chuyện gì, chỉ nhìn bầy sẻ nhảy nhót cũng thấy vui. Phải ngồi đúng góc ấy mới phát hiện ra mình quan sát được nhiều người. Phải ngồi một lần và nhờ cô chủ quán mở cho nghe bài hát mình thích. Và từ lần ấy về sau, mỗi lần đến 27, lại thấy mình được nghe: “Đôi ta chỉ có một mùa hè thôi…”, được nghe “Chiều trên phá Tam Giang…”. Chỉ còn biết nở một nụ cười cám ơn cô chủ quán đã không tình cờ.

Chỗ ngồi ấy đôi khi có một người gầy gò, ốm yếu, nhìn vào ông chỉ thấy một đôi kiếng nâu to. Ông thường ngồi lặng lẽ hút thuốc. Đó là dịch giả Lê Khắc Cầm, người bị bác sỹ cấm hút thuốc. Ở nhà buồn và bị các con “canh phòng cẩn mật”, ông Cầm trốn con ra 27 hút thuốc cùng bạn bè rồi đi xem ôm về. Chỗ ngồi ấy, nhớ ông họa sĩ Đinh Cường mang một ba lô to chậm rãi nhìn vào xem có bạn bè mình không mới vào. Bàn bè ngồi cùng nhau, nhắc lại những ký ức về những ngày lũ lụt ở Huế cùng ông Lê Khắc Cầm chèo thuyền bẹ chuối đi uống cà phê. Quán cũng bập bềnh những chiếc bàn. Người cũng bập bềnh vừa giữ lấy cái bàn có ly cà phê vừa giữ lấy chỗ ngồi. Và cả hai người đều không biết bơi

Nơi ấy – lần đầu tiên tôi bước qua vách ngăn lạnh lẽo thông thường của họa sỹ Bửu Chỉ khi tình cờ nhìn thấy chiếc bật lửa có khắc những chữ la-tinh kỳ lạ: “Mea culpa, mea culpa, mea maxia culpa”. Hỏi ra mới biết đó chính là kinh cáo mình của đạo Công giáo: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Một năm sau, không ngờ chính góc quán ấy, một buổi chiều cuối năm, những người bạn già trầm ngâm cùng nhau, rót một chén rượu dưới đất, nhớ Bửu Chỉ - nhân ngày giỗ đầu.

Tôi không thường đến 27. Những lần đến có khi gặp người lạ, có khi gặp người quen. Có khi chỉ là những người quen mặt nhau và ngoài ra không biết thêm được điều gì. Có một lần tôi gặp ở đây một người lạ. Người lạ ốm, hiền từ, giản dị và dễ gần. Tôi ngạc nhiên khi biết người lạ đó là chủ nhiệm một tờ nhật báo lớn ở Sài Gòn trước 1975. Ông nói chuyện bằng vẻ từ tốn của mình. Tất cả những mảnh chuyện vụn được ông kể bằng giọng điệu đầy trìu mến, dù chúng đã thuộc về 30 năm trước. Mãi đến sau này tôi mới biét ông nhiều bệnh lắm, và có thể ra đi bất cử lúc nào. Thế mà tuyệt nhiên không hề thấy một chút bi quan, sợ hãi nơi ông ngoài sự điềm tĩnh lạc quan và nhẹ nhàng đón nhận.

Chưa thấy ngày nào mà chỗ ngồi bên gốc cây vắng khách. Những người bạn đến và đi. Người có mái tóc giống bờm sư tử vẫn lắc lắc cái bờm của mình đều đặn ngồi ở đấy buổi sáng trước khi đi làm. Không cố ý chờ ai, không cố ý đợi ai. Nhưng những cuộc gặp mặt bao giờ cũng là những niềm vui. Chiếc bàn ở đó theo thông lệ được xếp lại khi không có người tóc bờm và bạn bè mình. Thế rồi ngày nọ, người tóc bờm vào quán và thấy chỗ ngồi quen có ai đó đang ngồi – hẳn là cậu bé phục vụ mới chưa quen nên đã xếp chỗ cho khách lạ. Người tóc bờm hãy còn đang đứng tần ngần chưa biết làm sao thì người khách của chiếc bàn kia đã đứng dậy xin lỗi và trả chỗ ngồi quen lại cho bác.

Đã biết bao người ngồi nơi ấy đã đi xa mãi như nghệ sĩ Hoàng Thư, đạo diễn Bùi Sơn Duân, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Bửu Chỉ, bao nhiêu người làm khách viễn phương như Vương Đức Lệ, Đinh Cường lâu lâu ghé về thăm một lần…

Vậy có nghĩa là “văn phòng liên lạc” dưới gốc cây của cà phê 27 Nguyễn Thị Diệu Q3 đã được công nhận rồi chăng ?!

Trần Lê Sơn Ý
(SaiGon City Life 3/2006)

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2007

Mưa Sài Gòn bây giờ !

Trời SG mưa tầm tã, mưa từ tối qua sáng, từ sáng tới trưa và từ trưa tới chiều...Mưa thối đất thối cát. Mưa Sài Gòn bây giờ không phải là mưa Sài Gòn nữa rồi.....Chợt nhớ đến bài Giọt Mưa thu của nhạc sỹ Đặng Thế Phong.

Giọt Mưa Thu
Sáng tác: Đặng Thế Phong - Thể hiện: Ánh Tuyết

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2007

Blog lịch sử Việt Nam - tại sao không ?


Thì cũng có ý định post những cuốn sách lịch sử lên blog của mình, một mặt vừa để ngâm cứu dần (đọc đi, đọc lại thôi) và cũng để ai đó chưa đọc có tình cờ lướt qua thì cũng là điều tốt. Ấy thế nhưng sau khi post 02 hồi của Hoàng Lê nhất thống chí lên blog thì mới nhận ra những hạn chế khó khắc phục. Và ý tưởng để khắc phục là tạo hẳn ra 1 blog riêng chuyên trị về lịch sử, tha hồ mà post và sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến những việc khác...he he. Blog đó sẽ ra đời trong tối nay thôi. Mời những ai quan tâm vào đọc nhé ! Hiện tại trong tay có bộ Đại Việt Sử ký toàn thư (sẽ post lên đầu tiên - tất nhiên là sẽ chia thành nhiều kỳ rồi), bộ Cương mục, cuốn Việt Nam sử lược, rồi Hoàng Lê nhất thống chí ....ai có sử sách gì nữa share cho mình với nhé !



Nào, xin mời các bạn ghé Blog Lịch sử Việt Nam


Thứ Tư, 2 tháng 5, 2007

Vô đề 3


Những linh cảm mơ hồ
đánh thức giấc mơ yêu
Sau bao nhiêu bão giông
cuồng dại đã nhiều
Hạnh phúc mong manh
không thành tâm gìn giữ

Lá rụng cuối mùa
gió có đổi lời yêu?

*
* *

Trái tim đàn bà trong em gào gọi
Khan giọng tình yêu vẫn chẳng quay về
Vỡ vụn hết một đời em khờ dại
Xa cách rồi nào đã hết đam mê!

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2007

Dòng Máu Anh Hùng - Đạo diễn Charlie Nguyễn biết mình muốn gì !


Đã định không viết cái Entry về cảm nhận của riêng mình sau khi xem phim "Dòng Máu Anh Hùng" (bắt đầu chiếu chính thức tại các Rạp ở Tp.HCM từ 27/4/2007) vì ngại đứt gánh "Hoàng Lê nhất Thống chí" nhưng rồi lại bần thần viết ra để chia sẻ với bà con. Hôm chiếu ra mắt báo chí bộ phim này (20/4/2007) thì mình kẹt cái đám cưới nên không đi xem được. Có đứa em đi xem nhắn tin than thở: "Không như mong đợi, ngoài âm thanh, ánh sáng và những pha võ thuật"....

Phim lấy cốt truyện kể về hoạt động nổi dậy của nghĩa quân Đề Cảnh chống lại thực dân Pháp vào thời kỳ năm 1927. Thúy (Con gái của Đề Cảnh - Ngô Thanh Vân đóng) bị bắt trong một lần ám sát viên quan chức của Pháp được Cuờng (sỹ quan mật thám Pháp - do Jonhny Trí Nguyễn đóng) gia tay "nghĩa hiệp" cứu thoát khỏi nhà tù. Cả hai bị Sỹ (Sỹ quan mật thám Pháp - do Dustin Nguyễn đóng) truy đuổi. Kết phim, Cuờng lộ nguyên hình là "ngụy quân tử" giả vờ nghĩa hiệp cứu Thúy đưa về căn cứ của nghĩa quân nhưng thực chất là đã âm mưu với Sỹ từ trước lừa Thúy để truy bắt Đề Cảnh, thế nhưng vì cảm phục tinh thần của nghĩa quân chống lại giặc Pháp và tình yêu đối với Thúy sau một thời gian "chạy trốn", Cường đã quay lại cùng với nghĩa quân chống giặc Pháp.

Phim có tiết tấu nhanh, những pha võ thuật tuyệt vời, diễn viên nhập vai và diễn xuất tốt (nhất là vai Sỹ). Cũng có vài điều đáng tiếc như: phần lời thoại trong phim hơi khó nghe, nhân vật Đề Cảnh trong phim không khắc họa được hình ảnh một người thủ lĩnh thực sự của nghĩa quân....Công bằng mà nói thì đạo diễn Charlie Nguyễn biết mình định làm gì và đã làm khá tốt. Toàn bộ truyện phim chỉ nhằm thể hiện những pha võ thuật và hành động theo đúng "chất Mỹ", Ngô Thanh Vân đã thể hiện rất tốt vai diễn của mình, Trí Nguyễn và Dustin Nguyễn với kinh nghiệm của mình ở Hollywood đã mang lại cho người xem Việt Nam "chất hành động Mỹ" không chê vào đâu được. Bộ phim Dòng Máu Anh Hùng chắc đã để lại "bài học lớn" cho các đạo diễn của Việt Nam khi muốn làm phim thương mại - giải trí.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2007

Xem Áo Lụa Hà Đông và những cảm nhận cá nhân


Chiều nay quyết định đi xem Áo Lụa Hà Đông để tận mắt coi xem phim thế nào, báo chí nhà ta khen có đúng hay không và chê có quá hay không. Xem hết bộ phim nhưng chẳng đọng lại điều gì nhiều. Trước tiên phải khen ê kíp làm phim đã vất vả, có mong muốn hướng tới một bộ phim hay và cũng đã đạt được một vài điều sau những cố gắng đó: Bộ phim thấp thoáng có ý tưởng, có truyện, hình ảnh đẹp, kỹ xảo tốt và dàn diễn viên hùng hậu với chi phí làm phim cao. Thế nhưng (vẫn cứ phải thế nhưng): Xem phim ALHĐ tôi có cảm giác như đạo diễn bỗng nhiên nhặt được ý tưởng về chiếc áo dài trắng làm hình tượng cho người phụ nữ VN rồi bám diết lấy nó; vì quá "tham" nên bộ phim bị chi phối quá nhiều với những trường đoạn dàn trải chẳng ăn nhập với ý tưởng (trồng Cây cau, Hai vợ chồng Dần từ Bắc đi vào Hội An...); đạo diễn có những lúc "quên" mất hình tượng chiếc áo dài trắng mà lại mải khắc họa hình ảnh người phụ nữ VN vượt khó khăn, đảm đang, chịu thương chịu khó, hy sinh cho chồng, cho con (trường đoạn bán sữa cho ông già) nên tạo ra rất nhiều khoảng trống trong phim. Tạm gác qua những lỗi morat trong phim như: áo dài khuy bấm, cột ăng ten ở phố cổ Hội An...) thì đúng là việc đưa hình ảnh những người nông dân nổi dậy từ những năm 1945 sang 1954 là không thể chấp nhận được về mặt lịch sử dù là ở thể loại phim nghệ thuật hay giải trí.

Có một chi tiết mà sau khi xem phim tôi vẫn cứ thắc mắc mà không thể giải thích được đó là tại sao ở cảnh không quân Mỹ ném bom trường học lúc Hội An đang đọc bài luận của mình về chiếc áo dài thì lại có hàng chữ chạy ở dưới chú thích rằng "Không quân Mỹ ném bom nhầm vào dân thường" ? Có thật là không quân mỹ ném bom nhầm vào dân thường hay đạo diễn Lưu Huỳnh có ý gì khác ? Và từ chi tiết này tôi lại liên hệ đến chi tiết cô bé Ngô cầm cây sào có treo áo dài trắng và chạy theo đoàn người "tản cư" và sau đó là năm 1975 khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh lá cờ trắng đầu hàng thường được bên thua trận sử dụng khi biết mình không thể tiếp tục chiến đấu !


Đây cũng chỉ là cảm nhận cá nhân nhưng thực lòng mà nói thì qua bộ phim này tôi cảm nhận rằng đạo diễn đã thiếu hẳn một "gốc rễ văn hóa" cần thiết của người Việt.

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2007

Entry for March 11, 2007- Bài viết "Nhớ bạn Đồng Đức Bốn" của Nguyễn Huy Thiệp


Nhớ bạn Đồng Đức Bốn



Sinh thời khi còn sống, Đồng Đức Bốn có lần hỏi tôi: “ Văn chương là gì?”. Tôi bảo: “Gần như đạo”. Đồng Đức Bốn quát nhặng lên: “Ông nói chữ, rất khó nghe! Rất khó nghe!”. Tôi bảo: “Đạo rất thường. Tỉ như phụ nữ cũng là đạo, mỗi người phụ nữ đều là một bộ chân kinh”...

1. “Ạ” Sư phụ

Nghe nói thế, mắt Đồng Đức Bốn sáng hẳn lên, ra điều tâm đắc. Sau này, khi viết “Võ lâm ngoại sử” tôi đã dành cho anh cả ba chương lận, trong khi các “anh hùng” khác có người chỉ được một dòng.

Đồng Đức Bốn (giống như nhiều người khác) cho rằng tôi viết nhố nhăng, đùa cợt, khinh thị người đời, song anh lại rất thích nhân vật sư phụ mà tôi miêu tả: “Da hơi đen đen/ Lại hơi tai tái/ Định thần nhìn lại/ Như miếng thịt trâu/ Lún pha lún phún/ Mềm mại tóc râu/ Loà xoà hai mép/ Đen tựa mực tàu/ Môi lớn môi bé/ Chóp chép nhai trầu/ Vui tính hết mức/ Đa cảm đa sầu/ Trán cao hàm bạnh/ Lễ nghĩa trước sau/ Cười nhe cả lợi/ Điên hết cả đầu/ Chỉ ba lạng thịt/ Hoá trăm sắc màu/ Nghìn vàng khôn chuộc/ Đắm chìm khe sâu/ Nghiêng thành nghiêng nước/ Quỷ khóc thần sầu!”

Đồng Đức Bốn bảo tôi: “Đây đúng là bậc sư phụ mà tôi phải “ạ” cả đời!”. Hỡi ơi, các bậc sư phụ còn đó, đạo vẫn còn đây, mà Đồng Đức Bốn nay đã giỗ đầu! Hỡi ơi! Xót thương thay!

2. Lợn hỏi chuyện bò

Trong chuyến đi xuyên Việt cuối cùng với Đồng Đức Bốn, có một người Chăm kể cho chúng tôi nghe về tục thờ bò và chuyện ghen tị của lợn với bò.

Chuyện rằng, một hôm lợn mới hỏi bò: “Này bác bò! Tôi không hiểu sao con người lại bất công và vô lương tâm đến thế? Bác cho họ sữa, tôi cho họ thịt xương. Tại sao người ta thờ bác, cho bác một ngày tế lễ còn tôi lại chẳng có gì? Hơn nữa, hễ mắng nhiếc nhau là họ lại réo là “đồ con lợn?”.

Bò suy nghĩ rồi bảo: “Tôi cho sữa, chị cho thịt xương nhưng khác nhau ở chỗ cách cho của hai chúng ta khác nhau. Tôi cho sữa khi tôi còn sống, còn chị lại cho thịt xương khi chị chết rồi. Sống mà cho nhau thì mới đáng quý đáng trọng, chứ chết rồi mới cho nhau thì cũng bằng không!”. Lợn gật đầu tiu nghỉu.

Nghe xong chuyện Đồng Đức Bốn vỗ tay reo: “Đúng! Đúng!”. Sau đó anh luận đến chuyện phê bình thơ, luận đến chuyện phê bình văn học ở ta. Anh cho rằng những người viết phê bình văn học chỉ biết “ôn cố tri tân”, chỉ biết khen ngợi người chết và dè bỉu người sống mà thôi thì cũng hệt như thế!

Hỡi ơi, Đồng Đức Bốn, anh cũng là “một con bò cho sữa khi đang còn sống”. Còn sống ngày nào thì còn cho sữa. Tập thơ “Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc” (NXB Hội Nhà văn- 2006 ) của anh là những bát sữa cuối cùng anh dâng cho đời trước khi nhắm mắt. Không ai quên anh! “Chỉ mong ngày ấy mưa to/ Bước chân ai có ngại dò đường trơn/ Tôi về cùng với trăng sao/ Xin trời một trận mưa rào đón tôi/”.

Hôm đám ma anh trời mưa rất to. Đây là một trong những đám ma đông nhất và gây xúc động nhất ở làng Moi quê hương anh. Hỡi ơi! Xót thương thay!

3. Con vỏi con voi

Nguyễn Huy Thiệp tại góc thơ Đồng Đức Bốn ở Văn Miếu (2006)

Cũng trong chuyến đi xuyên Việt, khi đến bản Đôn xem voi, tôi và Đồng Đức Bốn có nói chuyện với nhau về những đứa con của hai chúng tôi. Anh phàn nàn về sự bướng bỉnh của chúng.

Tôi bảo: “Làm sao được? Vì chúng còn trẻ. Ngày xưa chúng ta cũng thế!”. Đồng Đức Bốn xót xa: “Nhưng những sai lầm của chúng lại không sửa được. Khi chúng nhận ra như tôi với ông thì đã muộn rồi, đã gần đất xa trời!”.

Tôi cười buồn: “Đấy là những bài học đắt giá của nhận thức. Chỉ khi nào cay đắng, vấp ngã, bò lê bò càng người ta mới hiểu được ra. Có một rồi mới có hai, lẽ đời là thế!”.

Đồng Đức Bốn gật đầu: “Đúng rồi! Như con voi này: cái vòi đi trước, hai chân trước đi trước, hai chân sau đi sau, cái đuôi đi sau rốt. Không thể bắt hai chân sau của nó đi trước được!”.

Sau lần đi xuyên Việt ấy, Đồng Đức Bốn phát hiện ra anh bị ung thư ác tính, còn tôi bắt đầu thấy những dấu hiệu suy tim đầu tiên.

Năm nay lại có người muốn mời tôi đi bản Đôn nhưng tôi từ chối. Hỡi ơi, voi vẫn còn đó, chắc bành voi ta ngồi cũng vẫn còn đây mà Đồng Đức Bốn nay đã giỗ đầu! Hỡi ơi, xót thương thay!

4. Mộ Hàn Mặc Tử

Đáng lẽ ra tôi với Đồng Đức Bốn sẽ đi Nha Trang thăm mộ Hàn Mặc Tử. Từ Đồng Hới trở vào, chúng tôi đã nghe nhiều giai thoại về bậc thánh nhân của thơ Việt này.

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh năm 1912 ở Tam Tòa, theo đạo Kitô, cha là Nguyễn Văn Toàn làm thư ký Thương chính. Khi còn nhỏ, học ở Quảng Ngãi. Năm 1926 theo anh trai vào ở Quy Nhơn. Năm 15 tuổi bắt đầu làm thơ, nổi tiếng trên thi đàn.

Từ năm 1934, Hàn Mặc Tử làm báo ở Sài Gòn. Năm 24 tuổi, Hàn Mặc Tử xuất bản tập thơ “Gái quê” lừng danh và cũng là lúc phát hiện ra mình bị bệnh hủi. Một “fan” nữ mới 22 tuổi hâm mộ thi sĩ tên là Mai Đình đã bỏ hết cửa nhà tự nguyện đi vào chăm sóc cho Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử chết ở nhà thương Quy Hòa vào ngày 20 tháng 11 năm 1940 khi ấy mới 28 tuổi.

Khi viết về đời Hàn Mặc Tử nhiều người đã làm thơ, viết kịch hay nói đến nỗi đau khổ của thi sĩ trong khi thật ra phải nói về việc thi sĩ đã chịu đau khổ thế nào. Hai điều này khác nhau: Nói về đau khổ là nói đến sự bất hạnh nhưng nói đến việc con người chịu đau khổ là nói đến lòng can đảm, dũng khí của người ta.

Gần 100 năm trước, một chàng trai sinh ra ở vùng đất cằn, chỉ có một trái tim thật lòng, một mơ ước dâng hiến cho đời. Chàng đã rời quê hương đuổi theo giấc mơ mộng ảo.

Như nhiều người khác, chắc chàng cũng mơ ước công danh, thành đạt, tiền bạc và phụ nữ. Năm 15 tuổi, chàng biến mơ ước ấy thành nguyện ước là làm được cái gì đó (làm thơ?) để cuộc sống có ý nghĩa hơn, để đáng kể là mình đã sống.

Chàng đã dũng cảm vượt qua những nỗi bất hạnh, đau thương, bệnh tật để theo đuổi mơ ước ấy cho đến chết. Chính sự đau khổ và “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” đã làm nên thi sĩ, đã làm nên bậc thánh nhân chứ không phải là “những con đường tơ lụa”, những con đường vinh hoa phú quý.

Đó cũng từng là con đường đi của Chúa Giêsu, của Đức Phật, của Khổng Tử, của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử và nhiều bậc “tiểu thánh” khác. “Mục đích của chúng ta là giúp cho mọi người biết đến đấng Tạo hoá và làm cho đấng Tạo hoá được tôn vinh nơi những con người là hình ảnh của Ngài và giống như Ngài”.

Tôi đã được đọc câu ấy ghi trên bia mộ của một bậc thánh nhân thuở xưa. “Con đường của bậc thánh cũng là con đường của Đạo, của các nhà thơ, của Hàn Mặc Tử từng đi”. Tôi đã nói với Đồng Đức Bốn như thế.

Anh ngậm ngùi bảo tôi: “ Thế thì khó quá, khổ quá! Tôi muốn noi theo nhưng chắc tôi không theo được! Muộn quá rồi!”. Nói xong câu đó, Đồng Đức Bốn quyết định không đến thăm mộ Hàn Mặc Tử nữa, anh nằng nặc đòi quay về.

Tới Hải Phòng, anh đãi tôi món sò huyết tuyệt hảo ở nhà hàng đặc sản Thái Bình Dương. Món sò huyết rất ngon nhưng tôi không hợp nên ăn đau bụng. Đó là lần cuối cùng tôi và Đồng Đức Bốn “tiệc tùng” với nhau. Thoắt cái mà đã 2 năm rồi. Hỡi ơi, thương xót thay!

5. Ranh giới của nhận thức

Hơn 10 năm nay, trưa mồng 2 Tết nào nhà tôi cũng làm cơm đãi bạn bè thân thiết, trong đó phần đông là văn nghệ sỹ. Sinh thời Đồng Đức Bốn cũng hay lặn lội từ Hải Phòng lên dự. Tính anh ham vui, thích chiều bạn.

Tết năm nay vắng Đồng Đức Bốn, hầu hết bạn bè của tôi đều ngậm ngùi nhắc đến anh với niềm thương cảm.

Trong câu chuyện đầu năm, nhà văn Nguyễn Việt Hà và họa sỹ Lê Thiết Cương có nói với tôi về nghi lễ phong thánh bên đạo Kitô. Khi một người được thụ phong Hồng y, ngoài các tiêu chuẩn thông thường người ấy phải chứng minh được rằng trong cuộc đời mình đã từng làm ra phép lạ.

“Luật sư của quỷ” là người đứng ra phản biện. Ranh giới giữa ngày và đêm, giữa hay dở, thiện ác, thường nhân và thánh nhân đôi khi rất khó phân biệt. Phép lạ chính là giải pháp cuối cùng.

Trong quy luật nhận thức, bóng tối và ánh sáng đối lập cũng giống như bờ Mê với bến Giác, giống như đêm với ngày. Ranh giới phân biệt ở đây chính là lòng từ bi hỷ xả, nhân ái bao dung đối lập với sự oán thù nhỏ nhen.

Chính điều này làm nên phép lạ. Sống giữa ban ngày mà trái tim trĩu nặng thì vẫn là chìm trong đêm tối. Văn học- với chức năng đặc biệt của nó- là nghề nghiệp duy nhất chỉ nói về tính nhân đạo, sự bao dung và lòng chẳng nỡ.

Có người nói hay, người nói không hay, thậm chí có người nói ngọng. Khi không còn thơ, không còn văn học, khi các nhà văn không được tôn vinh thì đấy là dấu hiệu cho thấy xã hội đang suy đồi, nhân tính mất đi.

Đồng Đức Bốn đã từng là một nhân vật quái kiệt, hoang đường lạ lùng trong làng văn nghệ ở Việt Nam ta. Anh cũng đã nhận ra ranh giới phân biệt giữa thường nhân và thánh nhân, giữa người dưng và “người giời” nhưng tiếc thay, do những cơ duyên nào đó mà phép lạ đã không diễn ra.

Trước khi mất, Đồng Đức Bốn đã dũng cảm đấu tranh với tật bệnh và anh đã dốc hết sức lực đời mình cho thơ. “Hồn thơ lục bát ra đi/ Xin người ở lại sống vì nhau hơn”.

Đó là lời di chúc cuối cùng mà anh để lại cho người đời. Ngày Đồng Đức Bốn buông bút về giời ngẫu nhiên trùng với ngày Thánh Valentine 14 tháng 2, ngày lễ Tình yêu. Hỡi ơi, thương xót thay!

Tôi xin thắp một nén nhang lên mộ anh, người bạn thơ mà tôi yêu quý với lòng thương xót từ đáy lòng tôi.

Mồng 3 Tết Đinh Hợi

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

(Nguồn: Báo Tiền Phong Online)