Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

Hệ thống cơ quan tình báo Nhật Bản

Sau khi bại trận trong Thế chiến II, Nhật Bản đã bị hạn chế ở nhiều lĩnh vực an ninh, trong đó có tình báo đối ngoại.

Chẳng hạn, tin tức về các vụ phóng tên lửa của Bắc Triều Tiên, Tokyo nhận được từ Mỹ. Nhưng thời gian trôi đi, và Tokyo đã không còn sợ hãi các vụ scandal ngoại giao. Nhật Bản đã bắt tay thành lập cơ quan tình báo đối ngoại. Người ta biết được điều đó từ báo cáo mật gửi từ đại sứ quán Mỹ ở Tokyo về Washington. Báo cáo này nằm trong số các tài liệu do site WikiLeaks đăng tải và lọt vào tay báo The Sydney Morning Herald của Australia.

Ý định thành lập cơ quan tình báo đối ngoại Nhật là do Cục trưởng Thông tin mật và nghiên cứu Nhật Bản Hideshi Mitani nói với một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ vào tháng 10.2008. Trong báo cáo của đại sứ quán Mỹ nói rằng, chính phủ Nhật Bản đã quyết định tiến chậm trên hướng này vì nhận thức được sự thiếu thốn kiến thức cần thiết, kinh nghiệm và nhân lực còn phải đào tạo.

Các ưu tiên của cơ quan tình báo đối ngoại Nhật Bản sẽ là CHDCND Triều Tiên và Trung Quốc. Nhưng rõ ràng là Nhật Bản cũng không bỏ quên nước Nga và hướng Bắc vẫn là một hướng chiến lược đối với Tokyo.

Cộng đồng tình báo Nhật:

Hiện nay, ở Nhật Bản đã có một hệ thống các tổ chức làm công tác tình báo và phản gián, bảo đảm cung cấp cho chính phủ thông tin về các mối đe dọa bên trong và bên ngoài, cũng như tiến hành các hoạt động khác trong lĩnh vực an ninh quốc gia.

Đó là Cục Nghiên cứu thông tin trực thuộc nội các; Các cơ quan tình báo quân sự, Cục Thông tin và nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao; Tổng nha Cảnh sát; Cục Điều tra an ninh công cộng trực thuộc Bộ Tư pháp; Các cơ quan phản gián quân sự; Cục Di trú; Cục An ninh trên biển.

Cục Nghiên cứu thông tin trực thuộc nội các Nhật Bản

Đây là cơ quan tình báo hàng đầu của Nhật Bản hiện nay. Các chức năng của nó là: thu thập tin tức cần cho các thành viên nội các để trước hết là đưa ra các quyết định chính trị. Cục này gồm 6 phòng: Thông tin nội địa, Thông tin ngoài nước, Phối hợp với các cơ quan đặc vụ khác của Nhật Bản, Phối hợp với các cơ quan nhà nước, Phối hợp với các tổ chức xã hội và các hãng tư nhân, Liên lạc với báo chí, Phân tích. Quân số của Cục không lớn, thu hút các điệp viên hợp tác trong số các công dân nước ngoài, cũng như các cán bộ nhân viên các cơ quan nhà nước và các tổ chức tư nhân làm việc ở nước ngoài. Theo thông tin của các nhà báo Nhật, sẵn lòng hợp tác với Cục Nghiên cứu thông tin trực thuộc nội các Nhật Bản là các nhân viên các hãng thông tấn lớn nhất và các hãng công nghiệp-thương mại của Nhật. Các cán bộ trong biên chế của Cục hoạt động ở nước ngoài, sử dụng bình phong ngoại giao.

Tình báo quân sự

Nền tảng hoạt động của cơ quan này áp dụng các nghiên cứu và kinh nghiệm của Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ DIA. Trọngt âm chú ý là tình hình trên bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và Liên bang Nga. Để thu thập tin tức, họ sử dụng hầu như tất cả các phương thức tình báo: điệp báo, tình báo kỹ thuật vô tuyến điện, vô tuyến điện tử, vũ trụ và đặc biệt. Các cơ sở tình báo kỹ thuật mạnh nhất triển khai trên đảo Hokkaido. Cùng với các phương tiện tương tự của quân đội Mỹ, chúng liên tục theo dõi Hạm đội Thái Bình Dương và lực lượng của Quân khu Viễn Đông của Nga.

Phản gián quân sự

Nhật cũng lấy hình mẫu là các cơ quan tương ứng của quân đội Mỹ. Các nhân viên phản gián quân sự có mặt ở hầu như tất cả các cấp chỉ huy, kể từ các bộ tham mưu quân chủng. Họ hợp tác chặt chẽ với các sĩ quan phản gián quân sự của quân đội Mỹ đóng ở quần đảo Nhật Bản.

Cục Thông tin và nghiên cứu - Bộ Ngoại giao

Nhiệm vụ chính của cơ quan này là thu thập tin tức cần để xây dựng chính sách đối ngoại của Nhật, phân tích thông tin và đưa ra các đề xuất với ban lãnh đạo Bộ Ngoại giao Nhật. Thông tin chủ yếu thu thập từ các nguồn công ngai, được các đại sứ quán Nhật tại nước ngoài gửi về.

Tổng nha Cảnh sát

Một trong những nhiệm vụ của Tổng nha Cảnh sát là bảo đảm phản gián cho an ninh quốc gia. Tại Tổng nha này, trực tiếp làm nhiệm vụ đó là Cục Bảo vệ, gồm 3 phòng chức năng chính: an ninh công cộng, nước ngoài và điều tra. Các lực lượng chủ lực của phản gián tập trung ở vùng thủ đô. Các đơn vị tương tự cũng triển khai hoạt động ở tất cả các tỉnh của Nhật.

Cục Điều tra an ninh công cộng - Bộ Tư pháp

Khác với Tổng nha Cảnh sát, các nhân viên của Cục Điều tra an ninh công cộng trực - Bộ Tư pháp làm nhiệm vụ bảo đảm phản gián bảo vệ trật tự hiến pháp của Nhật. Bởi vậy, họ theo dõi hoạt động của các tổ chức cực đoan, phát xít, các đảng, phong trào, nhóm cấp tiến. Cơ cấu của Cục cũng gần như cơ cấu tổ chức của Tổng nha Cảnh sát, có: bộ máy trung tương và các đơn vị ở các tỉnh.

Cục Di trú

Là một bộ phận của Bộ Ngoại giao Nhật, ngoài nhiệm vụ cơ bản là kiểm soát xuất/nhập cảnh của công dân, còn làm nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo và phản gián; theo dõi người nước ngoài đến Nhật.

Cục An ninh trên biển

Không nhiều quốc gia có cơ quan như vậy. Cục An ninh trên biển làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới biển, tiến hành hoạt động tình báo trên biển, kiểm soát ngành đánh cá trong phạm vi 200 hải lý, tham gia cứu hộ/cứu nạn trên biển. Thời bình, Cục này là bộ phận của Bộ Giao thông, thời chiến thì chuyển cho Hải quân Nhật.

Tuy vậy, ngay trong thời bình, các lực lượng của Cục An ninh trên biển vẫn thực hiện các nhiệm vụ của mình với sự phối hợp chặt chẽ của Hải quân Nhật, trước hết liên quan đến hoạt động tình báo.

Về tổ chức, Cục này gồm bộ máy trung ương và 11 vùng. Quan trọng nhất là Vùng 1 - đảo Hokkaido, với các hướng Sakhalin và Kurils. Trong trang bị của Cục có hơn 500 tàu xuồng các loại. trong đó, có các tàu đại dương, tàu tuần tra, tàu tìm/cứu, tàu thủy văn và tàu bảo dưỡng thiết bị đạo hàng. Không quân của Cục gồm có hơn 60 máy bay tuần tra và trực thăng. Trang bị kỹ thuật luôn được đổi mới.

Tổng quân số dao động trong khoảng 12.000 người. Phục vụ trong Cục An ninh trên biển chỉ có những người tình nguyện, sau khi huấn luyện sơ bộ tại các trung tâm đào tạo tương ứng. Ngoài ra, trước khi gia nhập Cục, ứng viên bắt buộc phải từng phcuj vụ trong Hải quân Nhật. Loại hình hoạt động chính của các lực lượng Cục An ninh trên biển là tuần tra của lực lượng trên biển và không quân của Cục tại các vùng được giao. Ngoài ra, còn có các trạm radar hoạt động trên bờ, bao quát chắc chắn các đường tiếp cận bờ biển.

(Nguồn: vietnamdefence )

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2011

Yên Khuê - Kỳ Thư - Khôi Nguyên

Những tấm ảnh dưới đây được bác 5xu chụp hôm Tết ở Hà Nội.

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2011

Một mình vào ngã ba biên giới

Huy Minh
(11/1999)

Sau lưng tôi là ngàn vạn núi đồi Tây Bắc. Bên trái là dãy Phu Đen Đinh khổng lồ ôm trọn một dải biên thuỳ phân định Phong Xa Lỳ – Sầm Nưa với Lai Châu, thế giới của sơn dương và cầy cáo, đêm đêm vẫn dội lên tiếng guốc của nai, hoẵng, tiếng gầm của hổ và báo sao trong những thung lũng xa xôi. Bên phải là dải Phu Si Lung cao tới tận mây xanh, xứ sở của mây mù, núi cao và khe sâu, của huyền thoại xa xưa lắm rồi về một cung điện hoa phù dung trong lòng đất đã sụp đổ từ lâu, chỉ còn trong ký ức cư dân sống ở lưng chừng những đỉnh non cao. Còn trước mắt tôi là Apachải, là bản Hà Nhì cuối cùng nằm ở cực Tây của Tổ quốc. Từ đây trở về Hà Nội phải mất ít nhất 10 ngày trời cho chặng đường non 1.000 cây số, trong đó có 7 ngày đi bộ. Nhìn lại mình: giày ba-ta rách nát, các ngón chân tụ huyết, đầy những vết cắn của vắt, ruồi vàng, cỏ gianh và đá sắc, toàn thân ớn lạnh vì mồ hôi và khí đá khi chiều đang dần tắt. Tôi không chắc lắm từ đỉnh dốc này mấy cây số đường chim bay nữa sẽ đến toạ độ 103o46’ kinh đông chia ba biên giới, đến bản Long Phú, huyện Giang Thành, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, đến bản Lầu Sì Pơ Chải và Si Ca Hồ, huyện Nhọt U, tỉnh Phong Xa Lỳ nước bạn Lào, nhưng chắc rằng đó đã là những chân trời khác, không còn là Tổ quốc tôi. Còn đây là thung lũng Apachải, một dải đất bằng phẳng hiếm hoi như tuột xuống từ chân mây, vàng rực rỡ trong rừng hoa cúc quỳ dại nở suốt thượng nguồn Mophí, nơi thị thành xa mãi sau lưng kia đêm đã xuống từ lâu, nhưng ở đây ánh tà dương vẫn còn sáng ửng trên những đỉnh đồi trùng điệp, nơi Tổ quốc giã từ ánh nắng.


Có bốn con đường đến được Apachải. Thứ nhất là đi trực thăng quân đội chỉ sử dụng khi có chiến tranh hoặc mưa lũ cực lớn, cần dùng cầu hàng không để vận chuyển lương thực. Thứ hai là đi từ Điện Biên Phủ đến Mường Lay, chờ một hai ngày có xe đi Siphaphìn, từ đó đi bộ dọc biên giới Việt – Lào xuyên rừng rậm chừng 6 ngày trời mới tới. Hai cách cuối trước hết đều phải đến Mường Tè, cách lòng chảo Điện Biên 200km. Từ đó có thể đi bộ khoảng 8 ngày qua các bản Giàng Ly Cha, Ngà Chổ, Nậm Dính, Nậm Khum, Leng Su Sìn, Tả Kho Khừ mới đến Apachải. Con đường này phải qua dốc Tà Tổng mà độ cao chỉ thua đèo Pha Đin nổi tiếng của Tây Bắc, leo cật lực một ngày mới lên đến đỉnh, một ngày nữa mới xuống hết dốc. Nếu không chỉ còn cách ngược thượng nguồn sông Đà bằng độc mộc, từ đó đi bộ 6 ngày qua các bản Si Nế, Mù Cả, Ma Ký, Ma Ú, San Sà Hồ, Gò Cứ, Sen Thượng… để đến Apachải. Đây là con đường gần nhất tôi chọn, từ huyện Mường Tè muốn vào chỉ… phải đi bộ có 150km nữa.

Hai giờ sáng tôi mò dậy xách ba lô ra bến xe Điện Biên Phủ. Có điều gì đó không bình thường đang diễn ra ở cái bến xe thường ngày thưa thớt này. Chiều hôm qua, trại C10 vừa trả tự do cho 35 người đàn ông vượt biên trái phép. Nhóm họ đi có 200 người, toàn là nông dân ở Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Trị vay tiền ngân hàng chui lủi đến tam giác vàng, vùng giáp ranh Mianma, Lào, Trung Quốc lặn lội tìm trầm, bị quân đội Lào trục xuất. Cả đêm qua họ uống rượu, đánh nhau, chửi nhau bằng tiếng Lào, tiếng Thái, trút lên đầu nhau những uất hận sau những chuyến đi dài ròng rã, nhưng ở nơi đất khách quê người không dám nói thành lời. Những người đàn ông mặt mũi lì lợm, tóc trùm tai cợp gáy, môi thâm, mắt trắng, ngồi thành từng nhóm, hút thuốc như điên. Kẻ thì nhảy lên ôtô vừa van nài vừa dọa nạt tài xế cho về đến được quê nhà, người thì móc những đồng bạc Thái, đôla nhàu nát giấu trong những con mắt giả, dán sau vành tai, cuộn trong quần lót hoặc những vết thương nào đó trên cơ thể, đổi thuốc, rượu, bánh mì. Tôi chuẩn bị bước tiếp vào một trong những con đường mà họ đã đi qua.

Chưa khởi hành đã gặp điều lo lắng – có thể phải đợi thêm nhiều thời gian sau mới đến được Mường Tè vì không có người đi. Ông tài chạy chuyến này suốt ba hôm sáng nào cũng đánh xe ra bến rồi lại về không. Cuối cùng xe cũng rời bến với tôi, hai người lính và một người thợ làm đường.

Lính biên phòng tiểu khu 40 đóng tại Mường Tè bảo, vào Apachải có 36 kiểu chết: cây đổ, nước cuốn – chết; đất lở, lửa cháy chạy không kịp – chết; rắn cắn, sốt rét, lạc rừng – chết… Vào mùa khô, gió Lào thổi như hắt lửa, lá rừng vỡ vụn dưới bước chân người, lửa rừng cháy suốt đêm trên những đồi cỏ gianh vàng vọt, có những chặng đường đi cả ngày không kiếm nổi một giọt nước. Mùa mưa, đường mòn ngập bùn đến đầu gối, muỗi vắt nhiều vô kể, đất đá trượt ầm ầm trong những thung lũng vắng, suối cuốn trôi trâu, cây rừng mọc nhanh như phù phép, người đi một tay chống gậy, một tay cầm dao phát liên tục mới luồn qua nổi… Xin giấy phép ra vào khu vực biên giới, công an huyện ký cho tôi đi hẳn 2 tháng. Từ xưa đến nay, dù là cán bộ lâu năm ở huyện vào Apachải bao giờ cũng phải có hai người, lỡ ngã bệnh, gãy chân còn cõng nhau ra. Dạng VIP mới được mang theo vô tuyến điện, xảy ra bất trắc thì gọi trực thăng vào cứu. Huyện Mường Tè hiện có 5 cán bộ vào Apachải làm việc, đi đã 47 ngày chưa thấy trở ra, cũng không có tin tức gì hết cả. Khách lạ mặt vào ngã ba biên giới được nửa đường không còn sức quay ra, thì chỉ có mỗi một trò là vào bản nào đó, nói dăm ba câu bậy bạ, dân quân xã sẽ không ngần ngại trói cổ lại, đánh cho một trận rồi vứt lên lưng ngựa giải suốt ngày đêm về huyện.

Chặng đầu tiên là ngược sông Đà. Sông Đà ở thượng nguồn danh bất hư truyền, không giấu giếm phô diễn sức mạnh hoang dại của nó. Sông Đà quanh năm nguy hiểm. Mùa lũ đổ về, có những khúc sông rộng thêm hàng trăm mét, nước ngầu đỏ thúc điên cuồng vào các khối núi chắn đường, tạo thành vực xoáy khổng lồ, nhấn chìm từng thân đại thụ lạc dòng nhẹ nhàng như bèo tấm rồi quăng khỏi mặt nước ở mãi dưới xa. Mùa khô, lòng sông cạn phơi đầy đá tảng, tạo thành những chuỗi cạm bẫy dài vô tận, gầm réo suốt ngày đêm. Ngày tôi đi, thuỷ chế ở mức trung bình nhưng sông Đà lại che giấu trong lòng mình một ẩn hoạ không ai lường trước được – những cây gỗ bị lũ lột truồng cành lá lăn vô định dưới đáy nước là ma trận thiên biến vạn hoá, mà chỉ có những hoa nước nhỏ nở lục bục trên mặt sông là dấu hiệu duy nhất ngầm báo sự có mặt của chúng.

Chiếc xuồng gỗ 40 mã lực dài tới gần 10 mét, mũi cong vút như cánh cung chỉ là một trò chơi con trẻ của dòng nước lũ. Lái xuồng ngược sông Đà có đoạn cần tới hai người nữa: một tát nước tràn vào, một ngồi ở mũi căng áo mưa chắn bọt nước cho người sau khỏi ướt. Lại có những đoạn sông Đà đột nhiên yên ả, phẳng lặng đến lạ thường. Đá ngũ sắc trên các triền núi thẳng đứng soi vẻ thiên kiều bá mị xuống lòng sông trải dài như một tấm gương. Khói xanh từ các mái nhà sàn người Cống, người Thái nằm vắt vẻo trên những đỉnh đồi cho khách lữ hành một cảm giác thanh bình tuyệt đối. Người Mường Tè bảo: sông Đà dữ nhưng không ai sợ sông Đà, có lẽ chẳng sai vì sông Đà đẹp quá. Ngày trở về, nghe tiếng thác sông Đà gào thét từ tận bên kia hai dãy núi mà kẻ xuyên rừng lâu ngày vui mừng như nhận ra tiếng gọi của người thân.

Chừng một giờ xuồng nữa sẽ đến biên giới Việt – Trung, tôi xin xuống. Từ đây tôi chỉ còn có một mình. Đèo Pác Ma thực chất là một bờ sông lớn, dốc thót ruột, leo được một nửa đã chực muốn quay về. Cho đến khi sương chiều dăng đầy đồi núi vẫn không thấy bóng dáng một nóc nhà sàn. Sau một sườn đèo, bỗng vỡ oà tiếng trẻ con cười nói, tiếng chày giã gạo của dân bản Si Nế từ bên kia thung lũng – mệt mỏi lập tức tuột ra khỏi người, trong cảm giác hạnh phúc được nghe thấy thanh âm đồng loại.

Sáng hôm sau tôi dậy sớm, tiếp tục đi. Lại một thân, một mình men theo con suối Nậm Ma. Ngày ở đây chỉ nắng dăm tiếng ban trưa, thời gian còn lại ngập chìm trong sương mù đặc quánh. Người Hà Nhì đi nương, đi săn chỉ có đôi chân trần, đi từ bản nọ đến bản kia mới dùng đến dép. Tôi cứ theo dấu dép hằn trên đất đồi, rêu đá, trên tầng lá mục đầy muỗi, vắt mà đi. Sau những góc núi khuất, chim rừng giật mình đập cánh bay từng đàn lớn. Rừng không bao giờ yên tĩnh bởi gió, cành khô rơi, nước chảy và những tiếng sột soạt kéo dài vô tận. Lại có những lối mòn yên tĩnh đến lạnh sống lưng khiến người đi phải khua gậy vào thân cây ven đường cho bớt sợ.

Si Nế đang hoan hỉ đón sự trở về sau 35 năm xa bản nhỏ của thầy giáo Anh hùng Nguyễn Văn Bôn – huyền thoại của một thời hoá giải lời nguyền “người Hà Nhì lội qua suối bị lừa ăn mất chữ”. Bây giờ dăm ngày người Si Nế mới gặp một dấu chân trâu rừng bên suối, một cây dổi bị gấu bẻ cụt ngọn, chứ thuở thầy Bôn mới đặt chân đến đất này, hươu nai đi thành từng đàn lớn, rừng không có đường mòn, ruồi vàng, bọ chó nhiều vô kể. Ngày ấy người Hà Nhì ở Si Nế không một ai biết tiếng phổ thông, đói bẻ ngọn sậy non mà ăn, rét lấy tro khô trong bếp rắc lên chân cho đỡ lạnh. Năm 1959, theo tiếng gọi của Đảng, thầy Bôn cùng vài người bạn lặn lội lên đây, ngày đó mới 21 tuổi. Nhờ một người bản xứ công tác dưới huyện Mường Tè làm phiên dịch, suốt hai tháng trời, thầy Bôn qua lại bảy bản ở Mù Cả, vận động tất cả trẻ con 8-12 tuổi về học tập trung, được tổng cộng 40 em cả trai lẫn gái, ghẻ đầy mình, chấy đầy đầu, khi đến mang theo… 40 bàn đèn thuốc phiện bằng đồng cổ. Thầy Bôn nhờ dân chặt tre làm trường, làm ký túc xá dân lập đầu tiên trong cả nước ở rẻo cao. Dầu không có, bút không có, thầy dạy trò cầm que viết lên không cho quen cổ tay, rồi viết xuống đất, viết lên lá chuối, ngày dạy học chữ, tối nhảy múa. Biết chữ rồi, người có trình độ già lớp 1, non lớp 2, lại quay về bản dạy cho dân mình. Thế mà cuối cùng có được tới gần 200 học sinh tất cả, nhiều người sau này về tỉnh nên danh phận. Những cái tên như Lý Khai Phà, Lý Phi Chờ, Lý Xé Hừ, Lý Pờ Sơ… là niềm tự hào của tất cả mọi cư dân ở ngã ba biên giới.

Nghe tin thầy về thăm đất cũ, có những người đàn ông bạc đầu chắp tay lạy thầy rồi sụp xuống khóc. Thầy rời bản Mù Cả về đây, bà con còn đi sau tiễn tới nửa ngày đường, kêu qua thung lũng “Ơ, thầy giáo ơi”. Tôi ngồi ghi câu chuyện cũ của người thầy giáo già trong bóng đèn dầu tù mù, ngẩng đầu lên đã thấy bà con đến xem ngồi chật nếp nhà gianh…

Gần nửa đêm, bà con kéo nhau ra một sườn đồi khá rộng hát, xoè. Con gái mặc áo thí mo, mũ uxo, váy dài tự khâu bằng vỏ chăn con công múa suốt đêm không biết mệt – đây là điệu Là le mi só le, kia là điệu Lá lá so phà… Con trai đệm đàn nà khơ, nhị xí gó, làm bằng hộp xà phòng và dây câu cá, thổi sáo mế đu, khoét từ thân cây đót vẫn làm chổi quét nhà trong tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng lép bép của lửa đêm. Ai cũng phải hát, phải xoè. Giữa đêm, mọi người kéo nhau về nhà trưởng bản, cơm gạo nương đỏ đựng vào xô, rượu uống bằng bát, rau thơm hái trên núi về để cả rễ chấm lụ khạ pá xì vừa chát vừa cay, không say không đứng dậy. Uống xong là mổ lợn treo đuôi lên xà nhà xẻo thịt ăn dần, và lại giã gạo, nhảy múa, gõ trống cho đến sáng.

Đêm ấy, trong tiếng sáo bố lố của Pờ Phí Chừ, một người đàn ông bị gấu vồ rách mặt thổi ru thầy, Lương Đức Cường, lính biên phòng đồn 315 về gác cho dân, ôm tôi ngủ chung cho đỡ lạnh. Cường quê Hải Dương, mới ốm dậy từ một trận sốt rét không có thuốc tiêm, tưởng chết. Cường nhập ngũ cách đây 2 năm, bạn bè đưa ra bến xe biết đi Lai Châu đều khóc. Thế mà người lính ấy, trong câu chuyện xa quê, đã kể rằng, Tết miền xuôi năm nay không về dù đã được ra quân. Chưa chia tay mà đã nhớ thượng nguồn, thác ghềnh, sương gió và đá núi, nhớ những chủ nhân của ngã ba biên giới.

Sáng hôm sau tôi dậy sớm, ăn dăm miếng bánh cha le, giống như bánh bột lọc dưới xuôi, chấm mật mía cho đúng lệ đồng bào rồi tiếp tục cuộc hành trình đã định của mình.

Tôi đến bản Mù Cả khi trời vừa sụp tối. Người Mù Cả cũng hiếu khách như bất kỳ ở bản Hà Nhì nào khác – nhà dù đói rách đến đâu cũng có riêng một giường cho khách qua đường nghỉ lại. Khách đến bản vào nhà nào cũng được, có thể để ba lô ở nhà này, lại ăn cơm ở nhà kia. Tôi nghỉ nhà Toán Ma Tơ. Trong khi tôi vừa ngâm chân bằng nước nóng hoà muối và cao Sao Vàng vừa hỏi chủ nhà đủ thứ chuyện, thì vợ anh ngồi cặm cụi hong quần áo, giầy ướt cho khách trên bếp lửa. Ngày hôm sau sẽ rất mệt mỏi trên con đường chừng 30 cây số mà dân bản địa gọi là “đường ngựa đứt hơi”, tôi xin phép đi nghỉ sớm. Nửa đêm chợt tỉnh vì gió lạnh thổi sương luồn vào chăn mỏng, tôi nghe tiếng con gái Ma Tơ nói chuyện với một chàng trai trên giường ngay cạnh. Sẩm tối vào nhà, rõ ràng cô bé này chưa tròn 15 tuổi. Hoá ra con gái Hà Nhì yêu rất sớm, chuyện chăn gối với người mình yêu ngay tại nhà bố mẹ đẻ cũng tự nhiên như việc hít thở khí trời vậy. Nay có thể yêu người này, mai người khác không ai cấm, nhưng khi cưới nhau rồi thì phải chung thuỷ cho tới tận ngày nằm xuống đất. Khách đến, con gái chủ nhà ở trong buồng rũ chăn, rũ chiếu mà khách không “biết điều” vào ngủ cùng thì tối đó không có chăn mà đắp, sáng dậy không có cơm nắm mà mang đi đường. Vậy mà khi tôi ngồi nói chuyện, có tới ba cô mặc rất diện vào túm tay lôi đi, nói một tràng gì đó. Ma Tơ bảo, nó khen cán bộ đẹp trai, rủ ra đồi chụp ảnh. Tôi nhờ Ma Tơ nói lại rằng trời đầy sương thế này thì làm sao mà chụp được, với lại cán bộ đau như rụng mất chân rồi.

Ma Tơ đập tôi dậy thật sớm, bắt uống rượu thật nhiều: “Cán bộ uống cho ấm, đi cho đỡ mệt”. Quả thật đoạn đường từ Mù Cả đến Ma Ký dài 7 cây số chỉ đi mất gần hai giờ. Nhưng tan rượu thì lạnh thấu xương, khớp chân rã rời không tuân theo ý mình nữa. Qua Ma Ký chừng hai tiếng thì điều lo sợ nhất đã xảy ra. Hết một khe suối nhỏ, đường mòn chia thành sáu ngả. Ngồi đợi gần nửa giờ mà chẳng có ai qua để hỏi đường, tôi đánh liều đi vào một ngả, một lát thì hết lối. Đường thứ hai càng đi càng rậm rạp, thiếu dấu chân người. Có dăm nóc nhà sàn thấp thoáng, tôi đi cố đến để hỏi đường. Không một bóng người, cái bản ma quỷ này đã chết từ lâu trong sương gió. Lạc đường. Trời đầy mây mù, không còn biết đâu là phương hướng, tôi đã thành một thứ trò chơi của rừng già. Chưa bao giờ tôi có cảm giác cụ thể hơn về sự cô độc đến vậy. Tôi không dám đứng ở đó lâu, rẽ cỏ tìm dấu chân mình quay ngược trở lại, đoạn nào đi được thì đi, đoạn nào chạy được thì chạy, lộn về Mù Cả.

Dân bản cho hay, nếu tiếp tục đi xuyên qua cái bản hoang tàn đó ba giờ nữa sẽ sang đất Trung Quốc, còn con đường tôi cần đi cách ngã sáu chưa đầy 50 mét, nằm trên lưng chừng vách đá. Một lát sau tôi có khách đến thăm, đó là Vương Đình Châu, Phó đồn biên phòng 315 được một người lính đi kèm dìu đến. Anh Châu bị sốt rét đã ba ngày, người xanh rớt, từ bản Mù Sung gắng gượng chống gậy về được đến đây, thấy vết giầy lạ đoán là có khách dưới xuôi nên tìm xin thuốc cảm. Anh Châu bảo: “Em quay về đi, từ đây vào Apachải còn 70 cây số nữa, xuống sức em không đến nổi đâu”. Tôi nghĩ bốn ngày quay về còn ngại hơn, nên quyết định đi tiếp, rồi muốn ra sao thì ra. Tối anh Châu đi tìm khắp bản, có Vù Á Hoa ngày mai đi sâu vào Ma Ú, dặn đi dặn lại cho tôi được đi cùng.

Á Hoa dáng đi hơi cúi, người gầy nhỏ nhưng sẵn lòng mang hộ ba lô, có đoạn còn cõng qua suối, cởi giầy, bắt vắt cho tôi. Lòng tốt của anh lúc đầu khiến tôi ngờ vực. Tôi thử rút tiền gửi nhưng Á Hoa không lấy, cởi áo tặng không nhận, cho thuốc cảm không nghe. Mãi sau mới rõ Á Hoa nghiện suốt 8 năm, bị nhiều người xua đuổi. Còn tôi, người Kinh miền xuôi, chịu đi cùng, chịu nghe kể lại những đoạn đời này là một điều gì đó anh chưa bao giờ dám mơ tới. Á Hoa mời tôi vào nhà ăn cơm trưa bằng được, lụt cụt chạy xuống suối đánh cá, ra đồi đuổi gà làm cơm. Giữ tôi ở lại chờ ngày trăng tàn vào mỏ muối Mồ Pá Chù săn nai không được, Á Hoa mang ba lô tiễn tôi gần năm cây số. Á Hoa bắt tôi nhớ khi đi đến đoạn suối có rất nhiều cổ thụ, ong làm tổ thành từng đàn lớn thì đặt vào tảng đá ven hồ nhỏ hai điếu thuốc lào, và đi tiếp không được quay đầu nhìn lại. Gặng hỏi mãi Á Hoa mới kể rằng, đoạn suối đó có ma thiêng, trâu bò không dám lội, dù giông gió thế nào cũng không một chiếc lá rơi được vào mặt nước. Người xưa đến đây dựng bản kể lại, ngồi để tay ra sau lưng cầu xin còn được ma cho bát, cho nồi. Á Hoa tháo con dao găm có vỏ da rất đẹp đeo bên người tặng bạn để hộ thân. Chào nhau, Á Hoa khóc. Sau này mới biết thêm rằng, Á Hoa đã đóng một mảnh giấy vào thân cây ven đường mòn nhờ người qua lại, có ai gặp tôi thì gửi lời mời hẹn ngày quay lại uống thêm với anh vài bát rượu.

Càng vào sâu vùng ngã ba biến giới càng thấy nghèo đói. Trẻ con bản Gò Cứ thấy khách miền xuôi, trần truồng chạy theo đông như kiến. Bản Gò Cứ, theo cách nói của bà con, rẽ cá mới thấy nước, ra vườn hái rau không nhanh bằng xuống suối quăng chài, mà dân thiếu thốn đủ bề. Người Gò Cứ hầu hết mù chữ, không nói được tiếng Kinh – cả bản có 82 nóc nhà nhưng chỉ 9 hộ đủ ăn mùa giáp hạt. Lưỡi cày thiếu, dao phát nương cũng thiếu. Đã thế đêm nào lợn rừng cũng về hàng đàn hai, ba mươi con phá ngô, phá sắn. Lồ Ô Vô mới 32 tuổi đầu mà có tới 10 con, vợ quanh năm chỉ nằm ở nhà mà đẻ. Sốt rét triền miên, mỗi lần cử người về PácMa xin thuốc chỉ được 30 viên đựng không đầy một bát, cả bản dành dụm bẻ đôi chia nhau cũng không đủ. Trưởng bản Pờ O Xá người như ma rừng, quần áo rách phải buộc túm bằng lạt, nửa đêm còn làm thịt một con chó ba cân đãi khách. Anh Xá lo rằng một năm nữa Gò Cứ sẽ không còn người có trình độ lớp năm, đi họp ở xã biết ghi cái chữ ra giấy về phổ biến lại cho bà con, thay anh làm trưởng bản. Lời nguyền “người Hà Nhì lội qua suối bị lừa ăn mất chữ” đến giờ vẫn còn dai dẳng. Trẻ con giỏi lắm chỉ hết lớp 2, muốn học tiếp phải về Mù Cả theo con đường “ngựa đứt hơi” đến người lớn còn phải đi mất 9 tiếng, sao đi nổi? Người ta quên mất những bản làng heo hút này, hay không làm gì nổi? Nghỉ dừng chân ở nhà nào, dù chỉ uống một bát nước đun sôi, tôi cũng vờ để quên một cái gì đó: áo mưa, đèn pin, dao cạo râu, bật lửa… Một chút cũng có thể giúp họ đỡ nhọc nhằn.

Từ Gò Cứ lên Sen Thượng, người ở đây gọi là “con đường khỉ”. Đường dài gần 20 km dọc suối, bám vách đá bên này chán lại lội sang bám vách đá bên kia. Suối Mophí có chỗ lội sâu ngang bụng, nước lạnh buốt xương, lính biên phòng vào nhập ngũ dân bản phải túm thắt lưng dắt đi từng bước một. Lội Mophí, đã ngã là chết, đầu gối va vào đá sẽ không đứng lên được nữa, cứ thế bị nước cuốn trôi. Trước ngày tôi đi hai tuần, một thiếu nữ Apachải đội muối bị nước cuốn, dân bản vừa khóc vừa đuổi theo tìm xác suốt 7 ngày trời mới thấy. Đó không phải là xác nữa mà là một cái túi da người lổn nhổn xương vụn vì ghềnh thác, tóc rối bời vì nước xoáy.

Trên những doi cát dài bốc hơi ngùn ngụt trong nắng trưa, thỉnh thoảng lại xuất hiện những dấu chân hươu to như miệng bát. Cá suối đuôi đỏ như lửa nghe tiếng chân người, chạy bắn nước. Trong những vực sâu, vẫn còn những con to như đứa trẻ, muốn bắt phải dùng sào đuổi ra dòng cạn rồi dùng súng bắn. Những con rắn đen, trắng nhỏ như chiếc đũa cuộn mình ngủ ngon lành trong các hốc đá, mặc người đi lại, những vạt cỏ gianh dài hai, ba trăm mét muốn vượt qua không phải là đi, mà là chui, lá sắc cào rách bất kỳ phần cơ thể nào lộ ra ngoài quần áo. “Năm nay mưa nhiều cỏ rậm, rồi hai tháng nữa lửa rừng sẽ lại cháy suốt đêm thôi” – người Sen Thượng nhìn trời bảo thế.

Bản Sen Thượng đón chào tôi bằng hai cô gái trần truồng tắm suối, té nước líu lo rủ cán bộ xuống tắm cùng. Một cô chạy lên bờ chả ngại ngùng gì: “Cán bộ ơi, cho A Nhí xin một ít xà phòng thơm đi”. A Nhí đợi tôi cho xà phòng mỏi cả chân trần. Chủ tịch HĐND xã Xín Thầu – Chu Xế Chừ, tiếp khách lạ mà như đón bạn cố tri, mời thịt gà rừng, cá pàxì, tối đến tự tay anh đem cao trăn nướng trên than hồng hoà rượu. Sau ngày chiến tranh biên giới, đã gần 20 năm rồi không có nhà báo dưới xuôi vào Sen Thượng. Đó là một lý do và anh cũng có cho riêng mình một lý do nữa. Anh đã từng là một người lính cụ Hồ về quê nhà và không đi đâu thêm được nữa. Xế Chừ coi tôi là một dịp may chưa từng có, có thể đem giùm anh lá thư về Hà Nội cho người bạn một thời điếu thuốc hút chung trên đường hành quân. Khi bà con nghe tin nhà báo về bản kéo đến chật nhà, kể biết bao chuyện buồn vui đã về hết, tôi chứng kiến Xế Chừ ngồi chong đèn, mắt ướt viết thư cho bạn. Sen Thượng xa lắm Hà Nội ơi. Thế mà còn phải một ngày dầm mình trong suối lạnh suốt đoạn đường 24 cây số nữa mới đến được Apachải.

Sáu giờ chiều, trước mặt tôi là Apachải, là bản cực Tây của Tổ quốc, của giống nòi tự do, nơi một con gà gáy ba nước nghe tiếng. Tôi dựa lưng vào vách núi ngắm nhìn ước mơ nhỏ từ thời cấp 3 của mình, nhận thấy đã hoàn toàn kiệt sức. Chấn thuỷ rất đau vì gan phải làm việc liên tục, uống rượu quá nhiều, không đêm nào dám ngủ đẫy giấc, không đỉnh đèo nào dám ngồi nghỉ quá lâu. Chuyến đi dài mà dân trong làng báo vẫn gọi là “conscience tour – chuyến đi của lương tâm” đã tới được nơi cần đến.

Còn có nơi nào xa xôi hơn Apachải? Một bát muối mang lên được đến đây giá 12.000đ, gia đình nào trong bản có người tật bệnh mà quân y đồn 405 không cứu nổi, có nghĩa là chết. Dân Apachải trồng được lúa, nuôi được trâu, rau trồng ra để cho già chết đi mà không bán đi đâu được, không làm sao giàu có nổi. Năm 1982, thấy dân cõng một tấn lúa nhọc nhằn ra được đến huyện đổi muối, đổi dầu không bằng xách một cân thuốc phiện, một số vị lãnh đạo đã xót ruột, cho trồng thuốc phiện. Chỉ một mùa rẫy, hoa anh túc nở bạt ngàn trên các sườn đồi. Đó là thảm hoạ đến nay còn đeo đẳng. Có người hút mười lăm, hai mươi năm, nằm bẹp trong nhà, ôi thiu quần áo, chưa bao giờ sờ tay đến cái cày, cái cuốc. Có người bỏ sang Lào đi ở để được hút cho thoải mái, 6 tháng trời mà hút hết 38 lạng. Đầu năm, trạm biên phòng đi một buổi chiều thu được 70 bàn đèn thuốc phiện. Đến từng nhà vận động đi cai thì dân oán. Nghiện nặng nhất bản là vợ chồng Vàng Lá Lụ – Pờ Xà Mé – mà người mẹ của 8 đứa con này thời thiếu nữ đi cắt cỏ gianh còn vật ngã được cả thanh niên, nay tàn tạ như con ma rừng. Bộ đội khuyên can gẫy lưỡi cũng không chịu. Giờ đã đỡ hơn nhiều, cha đã về với con, chồng đã về với vợ, đi đâu cũng tươi tỉnh hát hò, gặp bộ đội ở đâu là chào hỏi.

Sống vắt vẻo trên những sườn non cao như người Mông, nhưng người Hà Nhì luôn quần cư ở những nơi thuận tiện với phương thức canh tác của mình. Đồng bào ở nhà đất có tường trình chắc chắn dày 30-40cm chống sương gió lạnh. Nhà ở vùng Y Tí, A Lú (Bát Xát – Lào Cai) tường cao đến 3-4m, mái dốc, ngắn, không hiên và chỉ có một cửa ra vào. Bên trong lại dựng thêm một lần tường có tác dụng phòng thủ và hỗ trợ chống rét. Lớp tường ngoài và tường trong cách nhau chừng 1m50, tạo nên khoảng trống gọi là hiên trong. Ở bức tường thứ hai mở một hoặc hai cửa để vào nhà. Hai gian ở hai đầu được ngăn thành hai buồng riêng cho vợ chồng chủ gia đình và con cái. Khoảng 1/3 chiều rộng của hai gian giữa là phần đất, còn lại được dựng thành sàn. Phần đất có bếp lò nấu cơm, cám lợn, có chạn bát. Phần sàn là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi ngủ của con gái, khách đến chơi nhà. Trên sàn có bếp lửa cháy suốt ngày đêm. Nhà người Hà Nhì ở ngã ba biên giới lại có tường và mái thấp hơn với hàng hiên phía trước, nhà chỉ có một tường, thường chia ba gian, độ rộng dài tuỳ theo sức người, sức của. Rất nhiều kiểu nhà được xây dựng ở Apachải với vật liệu, kiến trúc khác nhau mà tôi chưa từng gặp trong suốt dải hành trình. Có nhà dựng hai lầu, lầu trên mở cửa bốn hướng, lại là nơi sinh hoạt chính của cả gia đình được dựng bởi thợ xây từ bên kia biên giới sang làm giúp – kiểu kiến trúc giao thoa của rất nhiều dân tộc anh em chỉ có ở bản cực Tây của Tổ quốc này.
40 giờ ở Apachải đủ để tôi tìm thấy vóc dáng can trường và tình nghĩa người ngã ba biên giới. Chủ tịch xã Pờ Dần Sinh vai đeo đài pin đưa tôi đi thăm thú khắp nơi. Anh có một thân hình hoàn hảo làm người ta kinh ngạc và một ước mơ cũng làm người ta không quên được: “Một ngày nào đó, mảnh đất này sẽ là… thành phố Apachải”. Nhưng trước hết Pờ Dần Sinh mong mỏi một con đường để người ngựa có thể chở lúa, dắt trâu đi lại suốt ngày đêm.

Ở Apachải không ai không biết đến “hai con hổ xám” của một thời: Pờ Xí Tài và Tô Minh Điến. Pờ Xí Tài cao tới gần mét tám, ngày còn trai trẻ sức vật trâu ngã, một mình một súng trận, một ngựa chiến suốt 10 năm rong ruổi, ngủ tai phải thức tai trái tiễu phỉ, gọi hàng. Tô Minh Điến là trưởng đồn biên phòng, sống 26 năm với bà con Apachải. Tôi vào thăm Pờ Xí Tài. Huyền thoại một thời bây giờ ngồi suốt ngày trên ghế mây giữa nhà, vì bệnh tật. Năm ngoái Pờ Xí Tài tự mình đi đánh bẫy gấu lớn, mổ ngay lấy mật nuốt sống mà bệnh cũng không đỡ được là bao. Thích nhất là nghe Pờ Xí Tài kể chuyện các chuyến săn. Có chuyến đi rình hổ dữ thì gặp nó đang rình lại mình trong rừng sạt. Con hổ dữ gầm lớn rồi quật đuôi chồm tới. Pờ Xí Tài giật bắn mình ngã ngửa ra sau, theo phản xạ thả bừa một loạt liên thanh. Con hổ thành tinh khiến dân Apachải phải đi sơ tán đổ vật xuống người Pờ Xí Tài như một cây gỗ nặng. Hôm tôi đến, hổ dữ lại về Apachải, người ta thấy vết chân nó ngang ngược dẫm cả vào những lối mòn xung quanh bản. Tôi theo dõi Pờ Xí Tài lồng lộn khi nghe tin báo có tiếng gầm của hổ chỉ cách bản một giờ đường, vào buồng lôi cây súng của ông chỉ dành riêng để bắn thám báo và ác thú, vuốt ve mãi cái nòng thép xanh biếc có lỗ toả nhiệt mà thở dài bất lực. Không ai bảo vệ nổi người Apachải trước thiên nhiên hoang dại, ngoại trừ chính họ. Còn Tô Minh Điến là một quân nhân quê ở Thái Bình, biệt kích từng treo giải rất hậu cho ai chặt được đầu ông. Tô Minh Điến ra quân từ năm 1988, suốt từ đó đến nay không quay trở lại. Người ở đây nghe tin dữ rằng, Tô Minh Điến ở quê thấy côn đồ hành hung hàng xóm bước ra can, bị dao xuyên qua người thiệt mạng. Cả Apachải làm ma cho Tô Minh Điến. Có nhà báo lên đây họ mừng lắm. Trong cuộc rượu uống với thịt nai tươi vừa bắn được khi chiều, già Chang Vang Sinh, chú Sừng Khai nhờ tôi về xuôi hỏi lại tin của Tô Minh Điến. Nếu gặp được ông thì nhắn là già Sừng Là Vù đã mất rồi, gửi lời bà con mời ông lên chơi, lên say. Người ta không tin một người như Tô Minh Điến lại có thể sớm qua đời như vậy được. Chiến tranh đã lùi xa, Pờ Xí Tài và Tô Minh Điến, hai hảo hán huyền thoại của ngã ba biên giới đang dần đi vào ký ức. Bây giờ, ai giàu có, ai học hành nên người ở Apachải sẽ là những huyền thoại mới. Nhưng biết đến bao giờ mới có, khi những đứa trẻ Apachải quần áo không có mà mặc, muối không có mà ăn, suốt ngày nô đùa trong phân trâu, bò tù đọng?

Tôi ở hai đêm với những người lính trấn giữ cửa khẩu quốc gia Apachải, những người ba, bốn năm trời không thấy một bóng phụ nữ mặc quần hai ống; những người nghỉ phép một tháng mà không dám về quê vì đường dài đi không kịp. Không có sức mà chuyển lương, tám người lính Apachải phải tự đục đẽo cày bừa làm tất tật để nuôi mình. Apachải là nơi những lá thư nhà hai tháng mới gửi lên được đến nơi, có người vợ giận chồng: “Mẹ đang ốm, con đang ốm, em trăm lần xin anh, ngàn lần xin anh mau gửi tiền về cho mẹ, cho con”. Không có người về từ Apachải thì xót lòng bao nhiêu cũng đành phải chịu.

Chia tay, có đêm mất ngủ ở Apachải của những người lính nhớ nhà, có rượu mật ong, cao sơn dương, hổ cốt, rượu lục phủ ngũ tạng hổ bà con mời uống để tôi đủ sức trở về. Già Chang Vang Sinh gọi tôi qua nhà bảo: “Con à, ata đặt cho con một cái tên để ở trên này bà con dễ gọi. Chang là họ của ata, Hừ Giá là to, là nhanh nhẹn. Ata đặt cho con tên này để về sau con còn về uống rượu với ata. Có trở lại không con?”. Tôi cúi đầu. Từ xưa đến nay, người đã ra đi chưa ai một lần quay lại Apachải. Còn tôi, lời thề khi đi lạc rừng vừa đói vừa khát ở Ma Ký – đến bằng được để không bao giờ quay lại Apachải – bây giờ tan thành nước. Tôi đã là người Hà Nhì, là con của ngã ba biên giới. Có thể hàng chục năm nữa, một khách lữ thứ ghé thăm Apachải, sẽ vẫn được nghe những câu hỏi ngây thơ đau xé ruột gan: “Từ đây về Hà Nội có xa đến một tỉ cây số không con? Có phải người Liên Xô biết bay cả rồi phải không cán bộ?”. Nhưng anh ta có thể sẽ được nghe kể thêm về một nhà báo đã một mình lặn lội lên đây, đã được là máu thịt của Apachải. Người ấy tên là Chang Hừ Giá. Người ấy không làm được gì cho những cuộc đời tăm tối và ngay cả những dòng chữ như chắt từ nỗi xót đau của người ấy cũng không biết bao giờ mới đến được với Apachải. Với người ấy, một lần nữa quay lại với Gò Cứ, Sen Thượng, Tả Long San, Lỳ Mà Tá, Apachải… không còn là “conscience tour”, mà chỉ giản đơn hai chữ: Trở về.



(Nguồn: Lấy trên blog của Huy Minh và cũng là một phần trong tập phóng sự "Kimono trong rừng thẳm" của Huy Minh - NXB Văn học 2010)

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Chuyện làng báo chí đầu năm 2011

Sáng nay, mở YM ra thấy hiện lên cái tin nhắn offline:
Đau đầu vì điện
Điên đầu vì đô
Ngây ngô vì vàng
Ngỡ ngàng vì đất
Ngất vì tỷ giá
Ngã vì lãi suất
Uất vì giá xăng
Thăng thiên vì chứng khoán
Choáng vì vĩ mô
Xô bồ vì quản lý
....
Tí chết vì giao thông !

Mở các tờ báo điện tử ra cũng đầy rẫy những thông tin "kinh hoàng": vàng lên, đô xuống, chứng khoán mất điểm, điện tăng giá....; Không chỉ ở mảng kinh tế, mảng pháp luật hình sự cũng được các báo khai thác tối đa vụ án "vợ nhà báo Hoàng Hùng đốt chồng", vụ Nông trường Sông Hậu được chỉ đạo của Thủ tướng là phải xử trong tháng 4....; Mảng quốc tế tiếp tục được khai thác với "dòng thác cách mạng" ở Lybia và cảnh báo sẽ lan tới cả Trung Đông...

Các nhà báo không biết gì hay mình ngu nhỉ?

Cho đến thời điểm này thì chỉ đúng là có giá USD mới có giá trị thanh toán để phục vụ các doanh nghiệp nhập khẩu chứ giá vàng lên chả ảnh hưởng gì đến ai. Vàng thế giới nó lên thì VN nhập khẩu về cũng phải tăng lên thôi chứ có gì mà cứ chạy tin suốt thế nhỉ? Có lẽ mấy anh (chị) nhà báo ăn tiền của các Công ty Vàng bạc đá quý để tung tin cho các bà, các chị tiểu thương sợ hãi mua đắt bán rẻ thôi.

Câu chuyện tỷ giá giữa USD và VND là một câu chuyện dài phụ thuộc rất nhiều vào sức khỏe của nền kinh tế (vốn đã yếu đuối). Việc tăng tỉ giá là điều được gần như được tất cả các doanh nghiệp dự đoán trước. Khi lạm phát xảy ra, VND mất giá thì chuyện thay đổi tỉ giá chỉ là chuyện phải xẩy ra sớm hay muộn (vài tuần hay một vài tháng) mà thôi.

Câu chuyện chứng khoán VN thì ai chịu khó để ý một chút sẽ biết ngay, làm gì còn sức nữa mà bật. Việc lên hay xuống ấy phụ thuộc vào các "đại gia" đốt các "con chiên" của mình khi nào mà thôi. Cứ nhìn danh sách top 10 công ty có tỷ lệ vốn hóa cao nhất thị trường CKVN mà xem, bạn hãy tự hỏi xem họ đang kinh doanh cái gì, có lời ra sao? Chiến lược kinh doanh dài hạn của họ là gì....? Bạn sẽ thấy ngay mà chả cần chuyên gia kinh tế nào giúp cả :)

Câu chuyện giá xăng lên cũng chẳng phải gì to tát: Chính các báo cũng nêu rõ rồi đấy thôi, giá dầu thô thế giới tăng, VN đương nhiên phải tăng giá xăng thôi. Có điều thời gian trước Tết (mà nói cho đúng là trước ĐH Đảng XI) các bác tớ không muốn làm mất lòng dân chúng nên "nghiến răng" bảo doanh nghiệp bù lỗ. Tiền bù lỗ cũng có hạn, giờ chịu không được nữa thì phải cho doanh nghiệp tăng thôi. Mà xăng tăng lên thì đương nhiên là điện phải tăng rồi, mà xăng dầu và điện đều được tính vào giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Điều gì xảy ra tiếp theo chắc các bạn đều đoán được.

Cái chết của nhà báo Hoàng Hùng thực sự đã là một mảnh đất rất màu mỡ cho anh em PV trong mảng Pháp luật-Hình sự khai thác từ trước Tết đến nay. Bắt đầu từ việc nghi do chống tham nhũng, chống tiêu cực cho đến quay ngoắt sang vợ giết chồng. Không tha một ai trong gia đình - dù là bố mẹ lẫn con cái anh Hoàng Hùng - tất cả đều được lên báo. Hình như các nhà báo đã viết những bài như vậy chưa bao giờ tự đặt mình vào vị trí những người bị đưa tin.

Câu chuyện chị Ba Sương ở Nông trường Sông Hậu thì nghe như có vẻ "gay cấn" hơn. Nhưng....hình như các nhà báo đều (cố tình) không biết rằng chị Ba Sương cũng có 02 căn nhà trên TPHCM, 03 căn nhà ở Cần Thơ và cả 10 mẫu đất ở Sóc Trăng. Những gì mà CQĐT đề nghị với chị Ba Sương đã là rất nhẹ, có xem xét đến "hoàn cảnh gia đình và lí lịch cách mạng". Cũng cần phải nói thêm đến đoạn các nhà báo ta đưa tin "110 người ký đơn xin đi tù thay cho chị Ba Sương": Khi cơ quan điều tra xác minh ra thì thực tế có 90 là tên thật, 20 người tên giả. Trong số 90 người tên thật ấy thì có đến 85 người không hề biết gì về cái lá đơn ấy cả, 05 người còn lại là người nhà chị Ba Sương.

Tiếp theo là câu chuyện cách mạng "Hoa Nhài" từ Tunisia tới Ai Cập và giờ thì "đe dọa" Trung Đông. Bài vở phân tích đã nhiều rồi, chuyện nội bộ có, chuyện kinh tế có, chuyện "giậu đổ, bìm leo" vì quyền lợi quốc gia có....nhưng có một điều xin các nhà báo làm ơn chú ý: Truyền thông phương Tây chiếm 90% (con số này tớ ước đoán) truyền thông thế giới. Rất nhiều sự kiện, sự việc đang được thổi lên một cách quá đáng.

(Viết theo đơn đặt hàng của Bộ trưởng Lê Doãn Hợp - 2/2011)

Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

Chết giập mõm

(Truyện này được copy nguyên văn từ Note của bác Thần Gió trên Facebook).

Khoảng tháng 8 năm 93, mình nhận được một bản fax đơn đặt hàng máy kinh vỹ dài mấy trang giấy. Người gửi cho mình là anh K, một đối tác của mình ở VN. Trị giá lô hàng gần 300 ngàn đô la Mỹ. Từ trước đến giờ mình chuyên oánh vòng bi, thuốc tây, ni ken về. Lần này mặt hàng tuy có hơi lạ, nhưng mình nghĩ: “Cái đéo gì múc về chả được, miễn là ra hìu”. Ngay như anh bạn mình chuyên oánh rượu sâm panh, vừa rồi còn hí hửng kiếm được đơn đặt hàng 2000 khẩu k59, kiếm cũng kha khá.

Lại nói về anh K, nguyên là sỹ quan quân đội. Năm 87 anh đang 29 tuổi đeo lon thiếu tá rồi phá ngang, về làm trưởng phòng kinh doanh của một công ty thương binh nặng. Anh trẻ tuổi, có tài buôn bán, rất được ông giám đốc trọng dụng, người mà thời ấy báo chí tốn không ít giấy mực để ca ngợi gương mặt điển hình tàn mà không phế. Một chuỗi cửa hàng bán lẻ của công ty được thiết lập trên những mảnh đất ven đường mà chưa có chủ. Tất nhiên là không phải mua, có mua cũng chẳng ai bán. Công ty thiếu gì thương binh nặng, cả tiểu đội cứ ra đấy mắc võng, đào bếp Hoàng cầm, lúc thì hát Bác đang cùng chúng cháu hành quân, khi hô xung phong váng trời. Bố bảo chả có cán bộ nào dám xách nhiễu. Vài hôm thì tiểu đội ấy rút, nhường chỗ cho một căn nhà tạm mọc lên. Lúc nào có biến lại thấy ba lô con cóc, lá ngụy trang xanh rì, chống gậy hành quân đi bảo vệ cứ điểm. Hệ thống rạp cót ép chiếu video chưởng cứng, chưởng mềm dọc theo con đường Nguyễn Trãi và khu vực Gia Lâm cũng chính là sản phẩm của anh K. Đang là một thiếu tá lương 3 cọc 3 đồng, vợ đẻ còn phải phi vào Thanh Hóa buôn lạc ra HN bán kiếm sữa cho con, bỗng nhiên xe máy 81 kim vàng giọt lệ chạy vè vè, tiền toàn dùng “vé”, đổi bộ quân phục sang bộ bò Levis đóng ở phố Hà trung, giầy thể thao cao cổ Tiệp khắc mầu trắng, thật là con người của thế giới thượng lưu.

Mình vô cùng nể và khâm phục anh K. Có thể nói, lúc ấy anh là thần tượng của mình.

Lại quay về chuyện của mình. Rời quân ngũ mình sang ngay nước Nga. Học thì ít đi kiếm ăn thì nhiều. Đang từ một thế giới toàn súng đạn và chém giết, sang một thế giới gái đẹp có thể thơm chó trên tầu điện. Từ một đất nước đói vàng mắt lúc nào cũng chỉ mơ được ăn thịt một bữa cho nhờn mép, sang một đất nước trứng gà là thứ rẻ rúng chẳng ai thèm ăn, thì có cái gì múc được về nhà mà không có lãi cơ chứ. Đầu những năm 90, bàn là hoa dâu, nồi áp xuất nắp ngoài nắp trong không còn là món hàng lợi nhuận cao. Nhưng thề có Chúa trên trời, có lão Đoàn, lão Chương, lão Sowntt làm chứng, mấy cái loại thuốc chuyên chữa lậu với giang mai như Lanh cô mi xin, Tờ ri khô pôn, hay mặt hàng đặc chủng khác như vòng bi, phụ tùng ô tô kamaz oánh được về nhà mà không lãi gấp 3 thì mình là con chó. À, mà có là chó thì chó Tây nhé, để gái Tây nó còn thơm. Chó ta toàn ăn cứt, kinh bỏ mẹ!

Anh K ở nhà chuyên bán hàng giúp mình. Giá cả thì không phải nghĩ, bao giờ anh cũng bán được giá đắt nhất và róc hàng. Hàng cứ về đến nhà đã thấy con buôn ôm tiền đến đợi lấy, bia kèm đậu phụ cũng mua, hàng họ sứt mẻ phế phẩm tí cũng không hề hấn gì. Đấy là nhờ tài buôn bán của anh K.

Cho nên khi mình nhận được cái đơn đặt hàng này, mình không khỏi rên lên vì sướng. Lô hàng này mua chỉ hết cỡ 100 ngàn đô, về bán được 300 ngàn, lãi một cục. Chí béo là cái cục cứt, bố mày cũng sắp ngồi vào hàng Soái ở đất Matxcova rồi đây này.

Thực ra vài trăm ngàn đô bây giờ thì chỉ là tiền tiêu vặt của khối vị, nhưng thời đó, trăm ngàn là lên soái. Soái của các loại soái là Chí béo, chuyên oánh hàng Ba lan, gia tài thấy đồn khoảng 200 ngàn. Cái loại Vượng vincom, Chi Liêu, Sơn cá rán… là trẻ trâu đéo biết đang khóc nhè ở bãi cỏ nào trên đất nước Nga rộng lớn kia. Gia tài của mình lúc ấy có độ 3 chục ngàn. Cũng là khiếp phết rồi đấy.

Trước đấy mấy năm, lúc còn ở bộ đội, mình khao khát tài sản sau này có khoảng 20 ngàn đô. Mua 1 chiếc xe máy DD đỏ chói mất hơn 2 ngàn, còn lại mua một cái nhà nhỏ, thoát khỏi căn hộ 12 m vuông cho 5 thành viên là thành thần tiên đéo phải làm gì, phóng xe máy chở gái rong chơi đến già.

Cái ao ước có một chiếc xe máy chở gái cũng là một kỉ niệm buồn. Dạo đó mình chợt phát hiện mình chưa biết biển là gì. Mình gọi mấy cậu bạn thân lại hỏi:

_ Chúng mày ra biển chưa?

_ Chưa. Hồ to lắm hả.

_ Mai nhỡ thằng nào dẫm phải mìn, dính quả pháo của Tầu mà đi thì sao? Phải biết biển là gì đã rồi chết mới không tiếc.

_ Thì đi xem biển.

Vậy là 3 thằng bọn mình ôm mấy cân gạo sấy, cắt rừng tránh trạm kiểm soát, lội bộ ra thị xã bắt xe về HN rồi leo lên tầu chợ trốn vé đi Hải phòng.

Từ Hải phòng đi tiếp Đồ sơn bằng xe khách. Vụ hải chiến năm 88 vẫn còn nóng hổi, nên cánh lính hải quân vùng 3 luôn được ưu tiên đi không mất vé. Đấy là bà buôn ngồi cạnh mình mách thế. Ba thằng bọn mình xách cái ba lô lộn đựng gạo sấy, áo quần bẩn thỉu tả tơi rách nát, quân hàm quân hiệu không có, xưng là lính kể cũng khó tin. Cánh hải quân trông phong độ hơn nhiều, áo trắng quần tím than khác hẳn cái mầu mốc đá của bọn mình.

Tay phụ xe nhìn bọn mình rồi cũng e hèm: “Ba thằng em cho anh xin tiền vé”

Mình bảo: “Bọn em là lính, anh cho đi nhờ nhé”

Tay phụ xe vằn mắt: “Lính tráng đéo gì mấy thằng đồng nát. Lấy vé đi.”

Mình tiếp: “Bọn em lính chốt. Mà anh biết đéo gì về lính chốt nhỉ. Bọn em đéo có tiền đâu, nhưng có cái này trả thay tiền vé. Lính chốt mà.”

Mình nói rồi mở hé ké cái miệng ba lô lộn ra. Tay phụ xe nhìn vào, thấy bốn năm quả na xanh rì, lạnh ngắt vội cười tươi như hoa: “Xin lỗi, xin lỗi các chú, luật bất thành văn ở tuyến này là bộ đội được đi miễn phí”.

Thế là xuống được Đồ sơn. Trên xe còn được mấy bà già giúi cho cái bánh khi nghe mình nổ về tình hình chiến sự nơi địa đầu tổ quốc.

Nước Đồ sơn đục ngầu. Cả ba thằng lao vội xuống nước, chả ai bảo ai đều vục mặt uống thử một ngụm xem có mặn như sách viết không. Vầy vò một lúc mệt nhoài thì lên bờ lấy gạo sấy ra nhai. Hôm ấy là chiều thứ bảy. Trai thanh gái lịch từ Hải phòng phóng xe máy ra Đồ sơn hóng mát như chảy hội.

Ba thằng ngồi trên bờ, chiếc quần đùi lính mỏng tang, dính chặt vào mấy tấm thân còm cõi, nhỏ nước tong tong xuống cát. Zai gái lượn đi lượn lại, tiếng máy nổ panh panh rất nghịch nhĩ.

Mình bảo: “Đéo được các ông ạ.”

Một thằng hỏi lại: “Đéo được gì? Biết thế nào là biển rồi còn đòi hỏi gì nữa.”

Mình bảo: “Đéo được vì mình khổ quá, nghèo quá mà bọn kia lại sung sướng thế. Lên đấm chúng nó một trận cho bõ tức”

Nói rồi ba thằng chạy lên đường cái. Tóm một thằng đang đi xe chở gái đẹp, lôi xuống đánh hội đồng tổng cốc. Thằng kia ôm đầu, lăn lộn dưới đất, miệng không ngớt rên la: ‘Em làm gì các anh đâu mà anh đánh em”. Cô gái sợ quá chạy biến đâu mất.

Đánh xong 3 thằng vơ quần áo chuồn sang khu khác rồi leo lên đồi thông. Đêm ấy cả hội nhai gạo sấy, ngủ khách sạn ngàn sao trên đồi thông ở bãi 3. Giấc ngủ chập chờn vì không có tiếng pháo.

Mình nghĩ: “Phản ứng tiêu cực thế cũng đéo được. Nhất định mình phải kiếm tiền mua xe máy trả thủ đời”.

Giấc mơ lúc ấy chỉ cỏn con thế thôi.

***************************

Đến lúc mình có trong tay 20 ngàn như mong muốn, thì lại không định mua xe máy nữa. Năm 92 mình sắm một chiếc xe ford chạy vèo vèo. Gái Việt gái Tây lác hết cả mắt, suốt ngày kiếm cớ xin thuốc hút rồi gạ đi nhờ xe. Gái đẹp dùng không hết, có hôm còn dùng cả nữ công an quá giang, trả thù cho những vụ bắt bớ kiếm ăn với người Việt.


Cậu Tây đệ mình chạy đôn đáo khắp nơi tìm hàng. Cuối cùng cũng ra manh mối. Cậu ấy bảo: “Loại này của Đông Đức. Nhà máy ấy nó đóng cửa rồi, không sản xuất nữa đâu. Tao tìm được một lô hàng tồn kho trên đất Nga”.

Cái cứt gì tồn kho ở nước Nga lúc ấy đều là tiền, nhiều là đằng khác. Một cái máy tính tồn kho, móc ra được đâu chừng 1,5 kg vàng. Mà cách đấy không lâu, mình còn bới được một lô thuốc tây ở tận Ircut, đếch biết tồn kho bao lâu, giá rẻ như cho. Vụ thuốc Tây tồn kho này có cụ Đoàn Thụy Anh trên FB này kiểm chứng. Mình ở nhờ nhà cụ ấy vừa bóc thuốc lấy lõi vứt vỏ đóng hàng cho nhẹ, vừa đàm đạo võ thuật, hứng lên lại làm vài đường quyền giãn gân cốt. Riêng vụ bóc thuốc đã giúp cho tay Thụy Anh cứng như thép, nghe nói sau này Thụy Anh bôn tẩu giang hồ không cần dao, chỉ cần lấy tay sọc một cái vào háng gái Tây là máu chảy ồ ồ như nước sông Cửu long.

Thế nên mình thấy đệ báo tồn kho là mừng húm.

Mình điện về, trao đi đổi lại, mọi việc ok lắm. Lại nói về việc điện thoại của Nga thời đó củ chuối vô cùng. Nhà nào cũng có điện thoại, nhưng đếch gọi đi nước ngoài được. Muốn gọi thì kết nối với tổng đài, đặt số. Hôm sau có cô tổng đài viên giọng buồn ngủ ngồi quay số rè rè về VN, rồi lại quay số đt của mình, sau đó cắm phích mới kết nối đàm thoại được. Nhưng từ VN, lúc ấy nhiều nhà đã có điện thoại, bấm phát là ăn ngay, đi đâu mà chẳng được, miễn là có tiền trả.

Thằng Tây bảo: “Hàng ở nơi khác, bọn nó yêu cầu kí hợp đồng đặt cọc 30% để chuyển hàng về”.

Mình nhẩm trong đầu đang có tầm 30 ngàn, đủ tiền đặt cọc. Rồi vay đám anh em bạn bè mỗi thằng vài ngàn, kiểu gì chả có được 70 ngàn thanh toán nốt. Đúng là ở hiền gặp lành, ở cái thiên đường này tiền rơi vào đầu dễ thế.

Mình gọi về cho anh K: “Ngày mai 9h sáng, tức 1h chiều ở VN, em sẽ kí hợp đồng và đặt cọc 30 ngàn. Từ lúc này đến đấy, nếu có gì phát sinh, anh phải báo cho em để em dừng HĐ”.

Sau đó nhà cứ có ĐT reo là mình giật mình, chỉ sợ có gì bất ổn thì tan mất giấc mơ đại soái của mình.

Đêm hôm ấy mình khó ngủ. Yên bình. Không có tin dữ từ nhà bay sang.

8h sáng, đầu chải gôm bóng mượt, ca vát hoa sặc sỡ, com lê com táo đàng hoàng ngồi đợi thằng đệ đến đón đi kí hợp đồng.

Mọi việc diễn ra chóng vánh. Hợp đồng kí roẹt roẹt. 300 tờ 100$ xỉa ra xanh lè. Hai bên bắt tay nhau hỉ hả. Bên bán hàng có nhã ý mời cơm nhưng mình từ chối. Vui thế này ăn thế nào được mà ăn.

Mình tạt qua ngay Đôm 5 (cũ), ở đấy mới có dịch vụ điện thoại vệ tinh của một ông chủ người Việt. Chiếc điện thoại có cái ăng ten dài nghêu như máy 2W của bộ đội. Muốn gọi phải chìa ăng ten ra cửa sổ. Mà tài lắm, bấm phát về VN ngay, giá thì hơi đắt, hình như 10 đô/phút mình nhớ không rõ lắm.

_ A lô anh K hả? Em đây. Báo anh tin mừng nhé là em kí HĐ rồi. 2 tuần nữa nhận hàng, em chuyển đường hàng không về cho nóng. Mọi việc anh an tâm nhé. – Mình tuôn một tràng không kìm chế nổi.

_ Ôi em à? Anh mong quá, từ hôm qua chỉ mong em gọi điện về.

_ Thế à! – Mình rổn ràng vì vẫn chưa dứt được mạch sướng.

_ Vụ ấy hỏng rồi. Anh kiểm tra lại thì đơn hàng đã lâu, họ mua sắm đủ rồi.

_ Thế là sao? Chuyện như vậy sao anh không gọi điện cho em?

_ Anh lại cứ đợi em gọi về…

Mình cúp ngay máy. Ngồi thừ ra một lúc để định thần lại. Mình bảo thằng Tây: “Mày gọi cho bọn kia bảo dừng lại vụ này đi”. Nói rồi mình chạy vội đi mua vé máy bay, cũng ngay trong dãy nhà ấy thôi, cái gì cũng có.

Thằng Tây quay lại bảo: “Không được rồi. Chúng nó cũng chuyển tiền cho bọn kia rồi”. Mình bảo: “Thôi được, để tao tính”.

*************************

Từ Đôm 5 mình phóng xe về khu nhà DAC của trường MGU gần đấy, chạy bộ lên tận tầng 8, gõ cửa phòng cô bạn gái mới chính thức yêu bảo: “Tớ về đây. Ấy có đi không”. Cô bạn gái ở nhà nên mặc cái kha lát mầu tim tím, ngồi bên mép giường, hỏi: “Có chuyện gì à sao bạn phải về gấp thế”. Mình bảo: “Chuyện làm ăn thôi, mới cả cũng sắp tết rồi, tiện đôi đường”. Bạn gái cúi đầu xuống, ngẫm nghĩ một lúc, trả lời: “Tớ đang trong giai đoạn viết luận văn”. Mình động viên: “Về đi, tớ hứa là sẽ viết hộ bạn luận văn”. Bạn gái gật đầu. Mình lại lao xuống cầu thang đi mua thêm cái vé nữa.

3 hôm sau mình có mặt ở sân bay Nội bài. Anh K ra đón, đi chiếc xe Dream mầu mận chín, thuê thêm chiếc Toyota đời ơ kìa để chở mình. Đường về thành phố vẫn phải vòng qua ngã ba Phủ lỗ, chưa có đường cao tốc chạy thẳng từ cầu Thăng long lên sân bay như bây giờ.

Anh K đã thôi làm trưởng phòng kinh doanh ở công ty nọ, mở một quầy riêng ở chợ Ngã tư sở, bán loa đài cát xét xập xình và nhảy vào buôn bất động sản, mua những căn nhà giá rẻ sắp có qui hoạch mở đường đi qua rồi đợi. Mình vào việc ngay: “Anh dẫn em đến bọn mua máy, em xem có vớt vát được cái gì không. Còn nước còn tát anh ạ”. Anh K bảo: “Để anh liên hệ với Tổng cục Địa chính”. Mình thắc mắc: “Có cái của nợ này à”. Anh K trả lời: “Mới thành lập, sáp nhật Liên đoàn trắc địa và Cục đo đạc”.

Mấy hôm sau anh K dẫn mình đi thăm các mối mua hàng của mình. Bà béo ở Quốc tử giám chuyên mua thuốc chữa lậu. Ông gầy bên Gia Lâm là khách hàng chính nhập nhip xe Kamaz. Cậu bóng mượt ở Trung tự là vua vòng bi. Đến đâu mình cũng được tiếp đón thịnh tình và được nghe kể về quá khứ kinh doanh oai hùng của họ. Mãi đếch thấy đưa đến thăm đối tác chính, khách hàng của vụ máy kinh vỹ, mình đành phải hỏi: “Vụ đấy thế nào rồi anh”. Anh K gãi đầu: “Ông ấy nghỉ làm ở chỗ ấy rồi”. Mình truy tiếp: “Chức vụ ông ấy là gì”. Anh K bảo: “Trưởng phòng”. Mình lại hỏi: “Phòng gì?” Anh K lúng túng một lúc rồi nói thật: “Phòng bảo vệ”. Mình phải hỏi lại lần nữa: “Anh lấy đơn hàng này từ ông bảo vệ à?” Anh K không nói gì, quay mặt đi chỗ khác ngó lơ.

Mình thấy bất ngờ còn hơn lúc nghe thông tin vụ này hỏng. Mình đẻ ra từ Cục đo đạc. Mình nghĩ nếu vậy thì có thể tiếp cận được thông tin chuẩn xác để có hướng xử lý.

Hai hôm sau, trong đầu vẫn quay cuồng tìm cách tiếp cận để xác minh thông tin, tình cờ đi qua đường Kim mã, chỗ gần khách sạn Daewoo đang xây dở. Thấy ven đường có mấy cửa hiệu chữ Tây trông như cái nhãn hiệu máy kinh vỹ mình mua. Trong cửa kính bầy mấy cái máy, đặt trên chân gỗ mầu vàng cam. Mình mò vào thử. Gặp một cậu nhân viên, hỏi ngay: “Bọn em kiếm máy này ở đâu thế?” Cậu nhân viên nhìn mình tròn xoe mắt như thể mình là người giời, bảo: “Của bọn em. Đây là văn phòng đại diện của hãng máy này đặt tại Việt nam”.

Mình quay về luôn, gió thổi ù ù bên tai, còi xe bấm bim bim nhưng mình mặc kệ. Ý định tiếp cận mục tiêu tìm kiếm thông tin chết hẳn, thay vào đó là câu hỏi: “Mình sai ở đâu? Như vậy là thế nào?”

*****************************

Về đến nhà mình gọi điện ngay cho thằng Tây, bảo: “Hỏng rồi mày ạ. Không còn hi vọng gì đâu. Mày báo với bọn kia hủy hợp đồng, chấp nhận mất tiền đặt cọc. À, mà tìm việc mới nhé. Tao chắc là không làm cái này nữa rồi”. Mình chấp nhận bỏ cuộc sớm. Thà mất 30 ngàn còn hơn vay mượn ôm đống hàng ấy về để thắp hương.


Tối ấy mình ngồi với anh K bên ấm trà đặc. Malboro bóc đến gói thứ 2, khói bay mù mịt. Anh K vốn không hút thuốc, thế mà cũng đỏ tay, nhấp liên tục. Trời rét nhưng trán anh lấm tấm mồ hôi. Mình hỏi: “Anh có biết bọn đấy có văn phòng ở VN không?” Anh K nói rất nhỏ: “Không”. Mình bảo: “Em cũng tin là anh không biết”.

Mình tin bởi chính mình cũng nhận thấy một vấn đề gì đó của xã hội đang thay đổi rất nhanh và mình hoàn toàn không biết cụ thể, không chỉ mặt đặt tên nó là cái gì. Mình rút cuốn hộ chiếu ra, chỉ cho anh K xem từng trang, nói: “Anh chưa đi nước ngoài lần nào đúng không. Đây, anh xem nhé. Quyển hộ chiếu của em đề chỉ được đi đến Liên Bang Nga, tức là ngoài nước Nga ra quyển hộ chiếu này không có giá trị anh ạ. Bạn em, chúng nó kiếm được cuốn hộ chiếu đề: Được đi tất cả các nước. Oách hơn em. Anh nhìn nhé. Khi em ra nước ngoài, có hộ chiếu rồi chưa đủ, phải có thêm cái visa xuất cảnh. Anh thấy đấy, triện như củ khoai nhưng không có là không xong. Trong cái visa triện củ khoai này, thể hiện rất rõ em được phép rời VN vào thời điểm nào tại sân bay nào. Ở đây ghi Nội bài, em vào SG bay là móm. Anh lật trang bên này xem nhé. Cái này là visa nhập cảnh. Cũng triện của khoai thôi, em phải qua sứ quán VN ở Nga đóng cái này thì về em mới không bị thu mất hộ chiếu. Em nghĩ, chính bản thân em đã đang ở nước ngoài, đang buôn bán ở nước ngoài, mà trong đầu em cũng không bao giờ tưởng tượng ra được rằng có bọn nước ngoài lại chui vào VN buôn bán. Chúng nó làm ra cái máy này, chúng nó bán thẳng ở đây, anh em ta làm sao mà cạnh tranh được.”

Anh K trầm ngâm, cái đầu gật gật liên hồi. Anh nói phào phào trong tiếng gió bấc luồn qua khe cửa: “Xã hội thay đổi nhanh quá. Chính bản thân anh cũng đang mất phương hướng. Năm trước anh đã phải đi học khoa quản trị kinh doanh của ĐH Mở. Giờ có vài tỉ thì mình quản lý được, sau có vài chục tỉ hay vài trăm tỉ sao quản lý nổi nếu không học”.

Mình thực sự bất ngờ khi biết anh K lúc này đã là SV năm thứ 2 QTKD. Đấy hoàn toàn là một quyết định đúng, mặc dù mình cóc biết khái niệm quản trị kinh doanh là cái khỉ mốc gì.

Mình bảo: “Trời phú cho anh có tài buôn bán, nhưng còn thiếu cái gì nữa thì em cũng không rõ”. Anh K ngồi im không nói gì.

2 năm sau, khi mình đã cứng cáp hơn và sự hiện diện của nền kinh tế thị trường rõ nét đến từng ngóc ngách cuộc sống mình mới biết anh K thiếu cái gì. Buôn bán chỉ là một kỹ năng trong số nhiều kỹ năng khác của kinh doanh. Nếu chỉ có duyên buôn may bán đắt mà thiếu hàng loạt các kỹ năng khác, mãi mãi vẫn chỉ là con buôn mua đầu chợ, bán cuối chợ, loại nghề có thể giầu được vào những năm 80, nhưng sẽ bị tụt hậu trong những năm tới.

Anh K đưa cho mình 5 ngàn đô. Thở dài, bảo: “Em hết tiền rồi phải không? Cầm tạm lúc nào có thì trả anh, không thì thôi”.

Mình cầm tiền, chạy về nhà cô bạn gái, xòe ra bảo: “Có hìu rồi, tớ với ấy ăn chơi bét nhè”.

Hai đứa mặc kệ đời chơi bời các kiểu hết 4300 đô thì phải quay lại Nga. Anh bạn thân lấy vợ, mình đưa nốt 700 đô còn lại, bảo: “Đáng nhẽ tớ phải mừng nhiều hơn, nhưng tế hết sạch rồi. Mai có khi lại phải kéo xe đi chợ bán hàng như tụi công nhân”. Anh bạn nhìn mình, trả 700, cương quyết không lấy. Mình cầm lại số tiền ấy nhưng lại lừa đưa cho vợ bạn, thế là mọi việc ok.

Mình chỉ hơi buồn buồn một chút vì lỡ mất cơ hội lên soái. Và cũng hơi lo lo một tí vì cô bạn gái kha lát tím quyết định trở thành vợ mình. Và mình thì đang trong tình trạng phải chia bao thuốc ra hút cho đủ 1 tuần. Nhưng cơ bản không có gì căng thẳng cho lắm, vì mình mới 22, còn cả một chặng đường dài trước mặt. Hơn nữa ở cái nước Nga này, được mất như cơm bữa mà cũng thấy có ai chết đói đâu.

Sau đận ấy mình không oánh hàng hiếc gì về VN nữa. Mình chuyển sang cách kiếm tiền khác có sự trợ giúp đắc lực của cô bạn kha lát tím với nhiều kỉ niệm còn rùng rợn máu lửa hơn nhiều những gì đã trải qua trước đó. Nhưng bài viết này chỉ là một kỉ niệm của máy kinh vỹ, nên mình dừng ở đây, kẻo lan man thêm lại là tài liệu đấu tố sau này khi mình sinh hoạt ở tổ hưu. He he.

PS. Cụ Đoàn và các cụ khác.
Em lan man kể chuyện về kỉ niệm bằng chữ, nên em để mạch văn như đang kể, đụng đâu móc ra đấy. Không có ý định viết thành một bài kí, hồi ức hay truyện ngắn. Chính vì vậy em cứ đéo lắc cho sướng mồm, như anh em mình vẫn thường tán nhảm với nhau.

(01/2011@ Thần Gió Facebook)

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

BGK Vina Idol 2010

(entry này copy nguyên văn bên blog 5 xu)

Ban giám khảo lúc đầu có ba người. Từ sân khấu nhìn xuống bàn của ban giám khảo, từ trái qua phải: nhạc sỹ Quốc Trung, ca sỹ Siu Black, đạo diễn Quang Dũng.

Sau đó ban giám khảo được bổ sung nhà báo Diễm Quỳnh. Diễm Quỳnh ngồi giữa Siu Black, Quang Dũng và thường hay mặc váy.

Có mấy tuần thi, ca sỹ Siu bị đau chân. Ban giám khảo chỉ còn ba người: Quốc Trung – Diễm Quỳnh – Quang Dũng.

Tối thứ ba hằng tuần có một thí sinh bị loại. Thí sinh bị loại sẽ hát bài hát chia tay để Ban giám khảo xem xét và dùng quyền “save” để cứu. Ban giám khảo thường tắt micro, chụm đầu thì thầm bàn bạc khá lâu rồi quyết định không cứu ai cả.

Lần đầu tiên Diễm Quỳnh tham gia thì Siu nghỉ. Hai giám khảo còn lại là Quốc Trung, Quang Dũng xoay ghế chụm đầu vào …Diễm Quỳnh rồi cúi đầu thấp xuống …giữa và thì thầm bàn bạc khá lâu, khá gay gắt. Tưởng như Quốc Trung đang tra khảo Quang Dũng nhằm moi bí mật gì ghê gớm lắm. Diễm Quỳnh ngồi thẳng và đờ đẫn mỉm cười.

Rồi Quang Dũng ngẩng đầu lên. Quốc Trung ngẩng đầu lên.

Quốc Trung hỏi Quang Dũng giọng đầy hăm dọa: Khai không?
Quang Dũng: Hơi khai!
Diễm Quỳnh hơi đỏ mặt.

Quốc Trung (quay lên sân khấu, mặt rất quan trọng): chúng tôi chia tay em, em dừng cuộc chơi ở đây.

Các thí sinh ôm nhau khóc òa lên.

Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010

Bong bóng

Truyện ngắn của VƯƠNG KIM THÀNH

1. Anh bất ngờ nhận được tin dữ từ bộ chủ quản: Việc chọn anh thay cho Tổng giám đốc Công Ty Hưng Thịnh chưa chắc đã thành. Tổ chức phân vân vì anh chưa có kinh nghiệm quản lý. Anh là cục phó chỉ phụ trách 3 người, trong khi công ty có đến 500 con người. Anh vẫn được nhìn như một công chức thuần tuý. Ở vị trí ấy, năng lực chuyên môn và khả năng kinh doanh của anh hoàn toàn chưa được thể hiện. Nỗi lo của những nhà tổ chức là có cơ sở. Liệu anh có đủ sức đảm đương gánh nặng mà tổng giám đốc cũ Hưng Thịnh bàn giao? Nghe nói việc anh có nhận chức hay không phụ thuộc rất lớn vào cuộc bỏ phiếu thăm dò tại văn phòng bộ.

Anh nhẹ người. Vậy là vẫn có cơ để cứu vãn. Không phải tổ chức không có lý nhưng làm sao biết anh đủ năng lực hay không khi nhiệm vụ chưa giao? Cờ vào tay ai, người ấy phất. Thời thế sẽ tạo anh hùng. Anh tự tin vào khả năng của mình. Trước khi anh chính thức được đưa vào danh sách tuyển chọn, nhiều người bạn khuyên anh: “yếu thì đừng ra gió”. Có người mạnh mồn hơn còn đe: Hưng Thịnh là đất dữ. Cậu muốn hạ cánh an toàn thì giữ chặt cái ghế Cục phó vào. Về Hưng Thịnh biết đâu cậu chẳng “thân bại danh liệt”. Nhưng anh sợ gì? Chiến tranh chết chóc còn chẳng doạ nổi ai, huống hồ làm kinh doanh. Anh được cử theo dõi các doanh nghiệp nhiều năm, trong đó có Hưng Thịnh làm ăn có hiệu quả. Nhưng không hiếm các doanh nghiệp, ôm khư khư bầu vú sữa bao cấp của nhà nước mà có lờ lãi bao nhiêu đâu? Có doanh nghiệp còn lỗ triền miên. Tiếp quản Hưng Thịnh là anh tiếp quản một cơ ngơi đã được trải thảm đỏ, có gì phải lo ngại?

Vậy thì phải đánh tan sự hoài nghi về năng lực quản lý của anh. Muốn thế, cần tạo ra một sự kiện để thu hút sự quan tâm của dư luận, mục tiêu chính là các quan chức trong Bộ. Với mối quan hệ với giới truyền thông anh dễ dàng tổ chức một bài báo phỏng vấn anh về một vấn đề kinh tế nóng. Dịp may trời cho, trong khi tìm cách khắc phục suy thoái, các chuyên gia lần đầu tiên đặt vấn đề tái cấu túc nền kinh tế đất nước. Cậu đệ tử của anh ở một tờ báo uy tín đã thuyết phục được Ban Biên tập. Cậu lập tức được anh mời thực hiện cuộc phỏng vấn. Mọi chi phí do anh lo. Cái danh nghĩa “chuyên gia kinh tế” mà bài báo phong cho anh cộng với nghệ thuật PR của nhà báo có tên tuổi, trên một tờ báo lớn đã làm lãnh đạo Bộ quan tâm. Cú đánh tỏ ra ép phê. Các nhà tổ chức dường như yên tâm hơn. Vấn đề còn lại là thuyết phục các thành viên khác trong cơ quan Bộ. Đã chắc chắn có một cục trưởng, hai cục phó khác và có thể là cả thứ trưởng ủng hộ anh. Các thành viên khác chắc không khó khăn nếu anh vận động hành lang tốt. Cần thiết, có thể chi phí tốn kém cũng được. Vợ anh, một người rất rành về vụ chạy chọt nơi quan trường bảo, người ta còn chi cả vài tỷ cho một chức danh. Chị bảo anh đừng lo tiền. Đây là một vụ phi đầu tư chắc chắn có lời và khuyên anh lập tức bay ra Hà Nội vận động.

2. Thật ra, anh vốn là người an phận thủ thường. Lên đến chức cục phó, tưởng không còn gì để ước mơ nữa. Có ước mơ cũng viển vông. Anh là cục phó phụ trách phía Nam, không còn đủ quỹ thời gian để tranh chức cục trưởng. Nhưng làm cục trưởng chắc gì đã hơn? Cục phó, tướng ngoài biên ải như anh không hẳn không danh giá. Nhiều doanh nghiệp trong cơ quan Bộ ở phía Nam rất nể trọng anh. Xuất hiện với tư cách long trọng viên ở các hội nghị. Nói vài câu trong lễ lạt. Tham gia cắt băng khánh thành. Đời sống kinh tế thì khỏi bàn. Vợ anh là chủ nhân mấy khách sạn kinh doanh hái ra tiền. Hai đứa con, một du học Pháp, một du học Mỹ. Nhìn lên tuy chưa thể bằng ai nhưng nhìn xuống chẳng mấy ai bằng mình. Có lúc anh đã tự nhận mình là người sung sướng.

Song ý thức tự thỏa mãn chỉ có khi không có cơ hội. Những dích dắc của cuộc đời như với cú va đập cực mạnh như những viên bida đã xáo trộn nếp suy nghĩ bình yên của anh. Việc Tổng giám đốc Hưng Thịnh nghỉ hưu và gợi ý của một quan chức “sao cậu không tranh cử” đã đánh thức khao khát tưởng đã chôn chặt tận đáy lòng anh. Nó như con sóng ăn chìm bất chợt sống dậy. Anh quyết định thử thời vận của mình bằng việc vận động một suất ứng viên. Chưa hẳn anh ham ghế Tổng giám đốc Hưng Thịnh. Cái chính là anh muốn chứng tỏ con người mình. Sao người ta làm được mà anh không làm được ? Anh có kém cạnh gì ai đâu. Vả lại, cũng phải đánh tiếng cho tổ chức biết, việc xếp anh chức cục phó là sai lầm khi anh có thể làm hơn thế. Anh chợt nhớ câu nói nổi tiếng của Niu tơn. Ông nói gì nhỉ ? “hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng cả trái đất lên”. Ai biết đâu, sự nghiệp cuối đời anh sẽ danh giá gấp bội so với phần đời nhạt nhẽo trước đó. Sẽ có những phút huy hoàng thực sự chứ không phải ngồi gặm nhấm thứ vinh dự hão huyền với cái chức cục phó hữu danh vô thực của anh. Điểm tựa ấy, rất có thể là cái ghế Tổng giám đốc Hưng Thịnh.

Ngay khi quyết định ra tranh cử, anh biết mình đã lựa chọn đúng. Anh phát hiện ra một khả năng chưa từng thấy ở trong con người mình. Hóa ra anh cũng có khả năng vận động, thuyết khách. Có thể là nhờ cái vẻ bề ngoài đĩnh đạc của anh. Có thể là ở cái bộ tóc chải bóng láng, đen mun trời cho: 57 tuổi mà chẳng thấy một sợi tóc bạc nào, không phải nhờ một sự can thiệp của thuốc nhuộm. Nhưng cái chính là nhờ khả năng, mà một ông “vua cửa sau” phải bái phục tài “lốp bi chính trị của anh”. Cũng không ai biết là còn cái gì khác hay không. Chỉ biết, sau nhiều lần, bàn bạc xem xét của cấp trên, người được đề cử duy nhất chỉ còn một mình anh. Khả năng ấy đã được phát huy hết mức trong cuộc vận động cuối cùng. Chẳng hiểu bằng tuyệt chiêu nào, anh đã thuyết phục được các cán bộ cốt cán cơ quan Bộ trong cuộc bỏ phiếu quyết định. Phần thưởng cuối cùng là xứng đáng. Anh trở thành Tổng giám đốc đời thứ 7 của công ty Hưng Thịnh.

3. Người xưa bảo “giàu vì bạn, sang vì vợ”. Giàu vì bạn, với anh không biết có đúng không, nhưng sang vì vợ là chuyện ai cũng biết. Chị là bà chủ kinh doanh tài ba nhưng cũng là người vợ rất yêu thương chồng. Chị chăm lo cho anh từng ly từng tí. Nhưng có lẽ vì quá yêu nên chị quản lý chồng hơi chặt. Người ta đồn ngày nào đi làm về, chị cũng ngửi cổ áo chồng xem có mùi son phấn lạ không và kiểm tra cả túi áo, túi quần lẫn ví. “Đàn ông nhiều tật lắm. Có tiền trong túi dễ sinh hư” chị bảo thế. Khi có người hỏi, sao chị cho anh mỗi ngày vài chục ngàn, chị cười “tiêu vặt thôi. Nếu tiếp khách, ảnh chỉ cần gọi điện, em sẽ chi”. Nhưng anh chẳng bao giờ mời ai. Mà có mời, bố bảo bạn bè cũng chẳng dám đi. Không ai dám bảo đảm rằng, chuyện chủ chi của chị không gây khó cho cuộc sống gia đình anh. Chị là người nổi tiếng chặt chẽ về tiền bạc. Đó là lý do hồi còn làm cùng cơ quan, anh chẳng bao giờ biết lương mình bao nhiêu và đồng lương tròn méo thế nào.

Những chuyện như thế không làm anh buồn dù đã thành câu chuyện làm quà của bạn bè và nhân viên cơ quan. Anh là người vốn vô tư. Thậm chí tự nhận mình là hội trưởng hội sợ vợ. Anh sợ vợ mình chứ sợ vợ hàng xứ đâu. Anh bảo cả nhà anh gọi chị là gấu mẹ vĩ đại. Anh kể, có lần anh hỏi con: các con có biết chuyện người đẻ ra sư tử không? Bọn trẻ tròn mắt: bố chỉ bịa, làm gì có chuyện người đẻ ra sư tử? Ai bịa? Không tin bọn con đi hỏi bà ngoại xem. Bà đẻ ra không chỉ một mà đến mấy sư tử Hà Đông, trong đó có mẹ các con.

Đó chỉ là chuyện đùa cho vui. Nhưng có chuyện thật một trăm phân trăm. Mà chuyện ấy ai hỏi anh chỉ đỏ mặt cười. Không ra nhận cũng chẳng ra không. Đó là lần anh đi công tác Hà Nội dài ngày. Căn phòng khách sạn làm ăn liên thông với chị, được kiểm tra thường xuyên. Chị điện thoại cho anh một ngày mấy lần. Khi thì hỏi anh ăn uống ngủ ngê ra sao, khi thì nhắn nhe công việc mua sắm. Có một hôm chị gọi điện không theo quy luật. Lúc ấy có một cô gái tới thăm. Anh xin lỗi vào rửa mặt trong phòng tắm. Nghe tiếng chuông điện thoại reo, đang phân vân không biết có nên nhấc máy hay không, cô gái bỗng giật bắn người khi anh từ toa-lét lao vụt ra như một mũi tên. Trên người chỉ độc một chiếc quần đùi, giọng thều thào như người tắt thở: “Đừng nghe, đừng nghe. Chết rồi!”. Bạn bè bảo anh nể chị và chị là thần hộ mệnh của anh. Giang hồ còn đồn vống lên rằng chức cục phó của anh cũng một tay chị sắp xếp. Bây giờ là ghế Tổng giám đốc Hưng Thịnh. Không biết có bao nhiêu phần trăm sự thật trong lời đồn đại ấy, nhưng những ngày ấy chị bay ra bay vào như con thoi giữa Hà Nội-Sài gòn. Biết đâu, trong phi vụ này, chị chẳng đóng vai trò kiến trúc sư ?

4. Cú ra chiêu ngoạn ngục của vợ chồng chị đã đem lại kết quả ngoài sức tưởng tượng. Vấn đề bây giờ là củng cố thành quả. Không thể ngồi gặm nhấm vinh quang. Giành được ghế đã khó, bảo vệ ghế sẽ khó hơn là thế. Chuyện làm ăn của Hưng Thịnh vẫn đi trong đường ray, không phải lo lắng gì. Anh chỉ không an tâm với việc quảng bá thương hiệu của công ty. Nhiều người khuyên anh đừng khuyếch trương. Họ bảo hữu xạ tự nhiên hương. Nhưng anh không nghĩ danh tiếng chỉ nhắm vào chất lượng sản phẩm mà có được. Phải có nhiều phương thức đưa công ty vào những hoạt động được xã hội và dư luận quan tâm. Hoạt động từ thiện cũng là hoạt động có thể quảng bá thương hiệu.

Quyết định mua bức tranh 10 tỷ của anh làm xôn xao dư luận. Danh tiếng Hưng Thịnh bỗng nổi như cồn. Cũng có ý kiến ở công ty bàn ra tán vào. Nhưng bức tranh bán đấu giá công khai trong chương trình văn nghệ trên truyền hình nên không ai nói gì được. Chuyện lãng phí tiền bạc cũng không thể đặt ra. Ủng hộ đồng bào lũ lụt miền Trung là lý do tuyệt vời khóa mồm những người nhiều ý kiến. Bức tranh do họa sĩ ít trên tuổi vẽ, nhưng bù lại có chữ ký Thủ tướng. Bức tranh sau đó đã được treo trang trọng ở hội trường công ty, không chỉ thể hiện lòng hảo tâm mà minh chứng cho trách nhiệm xã hội một đơn vị kinh tế có tầm cỡ như Hưng Thịnh tiếp tục ủng hộ những phong trào xã hội khác.

Được lời như cởi tấm lòng. Anh đã có tấm vé thông hành để bước vào hành trình mạ vàng tên tuổi nhờ hoạt động phi sản xuất. Hình như con đường này có vẻ ngắn hơn, tiếp cận mục tiêu nhanh hơn. Ý nghĩ ấy củng cố quyết tâm của anh. Với sự môi giới của một người bạn, Tổng biên tập một tờ báo lớn, phối hợp với Hội Nhà văn, anh quyết định thành lập “Quỹ hỗ trợ sáng tác về đề tài chiến tranh”. Hôm ra mắt quỹ, báo chí đăng tin rùm beng. Vị tướng, tư lệnh quân khu đến dự đánh giá cao những ý tưởng của anh. Rằng đây không chỉ là hành động có ý nghĩa về văn hóa, góp phần kích thích một đề tài sáng tác đang bị lãng quên. Những hoạt động sau này chỉ là chuyện tự nhiên nhi nhiên. Trong đó có quyết định tài trợ cho cuộc thi “Bộ đội cụ Hồ”. Mà, khi trao giải cuộc thi, xuất hiện trên truyền hình, được hỏi vì sao Hưng Thịnh tài trợ cho một đề tài quan trọng nhưng ít người quan tâm, anh xúc động suýt muốn khóc. Anh bảo anh luôn nhớ công lao của những người lính, những người đã chiến đấu hết mình vì độc lập tự do. Anh tài trợ cuộc thi vì anh luôn cảm thấy mình còn món nợ chưa trả với những người nằm xuống.

5. Những chương trình xã hội liên tục có thiên hướng văn hóa không chỉ vinh danh Hưng Thịnh. Tên tuổi anh, Tổng giám đốc cũng thường xuyên được nhắc đến trên báo chí. Cậu đệ tử đã viết một bài báo, cao hứng gọi anh là “Tổng Giám đốc yêu văn học”. Cái tít báo đã thành danh. Nhưng anh đâu chỉ là người yêu văn học. Anh vốn là môn đệ của nàng thơ đã in 2 tập thơ ở hai nhà xuất bản mặc dù nó chìm nghỉm trên văn đàn. Bây giờ, thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ với các nhà văn, giấc mơ nghệ sĩ vốn nằm trong máu cứ lớn dần lên. Anh không dấu diếm là mình đã từng khát khao trở thành thi sĩ. Nhưng thơ lúc đó chỉ là thú vui nhàn tản những lúc trà dư tửu hậu. Trở thành nhà thơ là mơ ước bất khả thi. Còn bây giờ? Con đường trở thành “nhà” đang nằm trong tầm tay. Anh có công cụ trong tay. In tập thơ quá dễ, chỉ cần có tiền. Viết bài ủng hộ đăng trên các báo cũng không khó khăn. Anh đủ khả năng tổ chức một đêm thơ, có sự ủng hộ của giới truyền thông. Chỉ cần tranh thủ thêm tình cảm của các quan chức trong Hội. Tiền lệ đã có. Nhiều Tổng Giám đốc không nổi tiếng trong kinh doanh mà nổi tiếng trong văn chương. Bộ anh đã từng có một Thứ trưởng đã được kết nạp vào Hội nhà văn mấy năm trước. Tiếc là ông đã bị...

Cái thú văn chương oái ăm thay, đã làm tiêu ma bao nhiêu sự nghiệp, vẫn có sức quyến rũ như bị ma ám. Mới đây khát khao có cuốn sách để đời của một Tổng Giám đốc đã làm hại chính ông. Cuốn “Từ đứa trẻ chăn trâu thành Tổng Giám đốc” của ông trở thành trận cuồng phong thổi bay cái ghế tưởng vững như bàn thạch. Ông Thứ trưởng, hội viên Hội Nhà văn, vốn là một Tổng Giám đốc danh giá một thời cũng mất chức vì văn chương. Các cụ xưa bảo “lập thân tối hạ thị văn chương” liệu có liên quan gì đến các sự kiện đó? Nhưng anh không lập thân bằng văn chương. Với anh, văn chương chỉ là chức danh cộng thêm cho cuộc đời thêm sang trọng. Cái danh ấy, anh cũng không giành nó cho riêng mình. Hưng Thịnh sẽ danh giá hơn với những hoạt động văn hóa ít doanh nghiệp nào bì kịp. Chất lượng văn hóa Hưng Thịnh sẽ là đảm bảo cho chất lượng sản phẩm của công ty. Nó sẽ nâng hoạt động của Hưng Thịnh lên một tầm cao mới, tầm cao của nhân văn. Đó chính là cái gốc của một nền sản xuất bền vững. Đấy cũng là lý do anh quyết định làm đơn xin gia nhập Hội Nhà văn. Cái ý nghĩa về một danh thiếp ghi Nhà thơ - Tổng Giám đốc làm anh sung sướng đến mụ cả người.

6. Con đường vào văn chương tưởng dễ ăn hóa ra cũng không kém chông gai. Có khi còn khó hơn việc anh vận động cho chức tổng giám đốc. Bốn lần xét đơn là bốn lần anh tất tả chạy ngược chạy xuôi mà cuối cùng chờ đợi ê chề trong thất vọng. Anh kinh ngạc vì hình như đây là một thế giới khác hẳn. Họ không giống giới quan chức hành chính mà anh quen. Trong quan trường, hứa như đinh đóng cột. Những cuộc vận động hành lang, vì vậy, dễ đoán định kết quả hơn. Còn ở đây, anh bất lực, chẳng bao giờ biết cánh nhà văn nghĩ gì. Những cuộc tiệc tùng sau thi của các ban giám khảo, có anh, đều rất vui vẻ, thân thiết nhưng không để lại một dấu ấn nào trong các cuộc bỏ phiếu. Hình như ở đây: câu có tiền mua tiên cũng được lại hóa câu tổng kết sai của người xưa. Không có những cuộc ký kết trên bàn nhậu như giới kinh tế. Khi anh đặt vấn đề, người ta gật gù và cười rất tươi, nhưng khi bỏ phiếu anh rớt vẫn hoàn rớt. Chưa lần nào tên anh vượt qua cuộc bỏ phiếu dù chỉ ở mức Hội đồng.

Nhưng anh còn làm gì được? Sách đã đưa ra hết trơn rồi còn đâu. Anh uất đến nghẹn lòng khi nghe thiên hạ đồn rầm, hội đồng không bỏ phiếu vì bảo thơ con cóc. Mọi nỗ lực của anh vận động đăng bài quảng bá trên báo, tổ chức đêm thơ hoành tráng và lập quỹ “hỗ trợ sáng tác đề tài chiến tranh” hóa ra là công toi. Vậy phải ra chiêu gì? Hay như câu nói đùa của một anh bạn: Cậu phải kiên trì, học thuộc câu thơ “Chầm chậm đến mình” của Trúc Thông. Trời chắc không phụ người có công. Không lẽ cách duy nhất, như mọi người nói, là mỏi mòn chờ đợi một phép màu?

Khổ nỗi anh không quen há miệng chờ sung. Anh lần tìm hiểu quy trình xét kết nạp hội viên của Hội nhà văn. Hóa ra bỏ phiếu không chỉ khó ở cấp Ban Chấp hành. Vượt qua cấp hội đồng mới là chuyện nan giải và Ban Chấp hành có muốn cũng chẳng cách gì can thiệp được. Ở đây, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một gu thẩm mỹ riêng không giống ai. Tác động được người này, chưa chắc đã tác động được người kia. Họ cũng chẳng quan tâm đến việc các nhà báo phê bình hay tán dương. Họ luôn có quan điểm nhận định riêng của mình. Họ thích những đột phá sáng tạo. Đó chính là trở ngại lớn nhất của những cây bút không chuyên như anh. Cuối cùng anh đành tìm đến một mẹo vặt mà một bậc đàn anh truyền cho. Anh muối mặt tìm gặp từng vị trong hội đồng: Tôi thì chắc không đủ phiếu rồi. Nhưng xin anh thương bỏ cho một phiếu danh dự để đỡ tủi thân. Mẹo vặt ấy đã lừa được các vị trong hội đồng, đem lại thành công cho bậc đàn anh. Còn với anh? Chết đuối đành bám cọng rơm thôi. Chỉ mong là cọng rơm mỏng manh sẽ không chìm.

*
* *
Thông tin về kết quả bỏ phiếu được chuyển tới lúc anh đang họp Ban Tổng giám đốc. Ai biết đâu chuyện làm ăn của Hưng Thịnh đang ngon trớn là thế bỗng đi xuống một cách bất ngờ. Vì ảnh hưởng của suy thoái kinh tế? hay vì anh quá mải mê chạy theo việc đánh bóng thương hiệu, bỏ bê chuyện kinh doanh? Cũng có thể là cả hai. Đó là cú đòn đau đầu tiên mà anh phải nếm trải từ sau khi nhận chức Tổng Giám đốc. Nhưng làm ăn là chuyện lâu dài, còn rất nhiều cơ hội để sửa sai. Kết quả bỏ phiếu ở hội đồng thơ mới là đòn choáng váng thực sự. Anh bỗng cảm thấy không gian ngột ngạt như không còn không khí để thở. Trước sự ngơ ngác của cả Ban Tổng giam đốc, Anh hấp tấp đứng dậy mở cửa bước ra sân.

Sự thật không thể tin được. Hơn 600 đơn xin vào hội, các hội đồng chọn được 131, chuyển lên chấp Ban chấp hành. Hội đồng thơ chọn 39 người nhưng không có anh. Nghe nói cái mẹo vặt của anh đã bị các thành viên hội đồng phát hiện. Họ đồng loạt gạch tên anh. Số phận bọt bèo của lá đơn đã được quyết định. Anh thẫn thờ ngồi ngấm nháp cái vị đắng chát của thất vọng và rùng mình khi nghĩ rằng cánh cửa của Hội nhà văn, không chỉ đóng lại mà có thể sẽ vĩnh viễn đóng lại. Anh bước đi như người mất hồn, có cảm giác mình đang bước vào một không vô tận và trống rỗng.

Ngoài đường, trời Sài Gòn đang mưa.

(Nguồn: Tạp chí Thế giới PR)

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

THƯ MỘT NGƯỜI GỬI MỘT CHỦ BLOG

(Bài này lấy trên Note của trang Facebook của bà Phan Cầm)

Nhân thấy chuyện một entry mà thấy làm ông bác lo buồn biện bạch nhiều quá, cũng thấy nên nói dăm lời. Về cái Blog ấy mà, tôi thì nghĩ nó khác với các trang Web do một người/một nhóm người lập ra chủ trương tạo một diễn đàn có tôn chỉ mục đích cao siêu về chính trị, xã hội hay trao đổi học thuật. Đã gọi là một dạng nhật ký cá nhân thôi thì chính là viết để thỏa mãn mình. Ngày xưa chưa có mạng miếc gì, viết nhật ký vào cuốn sổ tay cho riêng mình, sống để cạnh, chết chôn/thiêu theo. Cùng lắm cuối đời cho vợ đọc để biết chồng mẹ mày là thằng thế nào; cho con đọc để biết bố chúng mày là ông ra sao. Ngày nay có thể tùy nghi quyết định ai là người được vào đọc/viết bình luận: private, friends of friends, friends, public. Đã chọn public rồi thì ráng chịu hệ lụy việc ai cũng có thể vào đọc và bình luận. Đời thì chín người mười ý, chiều sao cho khắp được. Mà người làm vừa lòng tất thảy thì cũng là người chẳng ra gì.

Vậy Blog của bác là “nhà” bác. Bác có thể đóng cửa trò chuyện một mình, có thể cho một số bạn thân chìa khóa riêng, có thể mở cửa suốt đêm ngày cho ai vào chơi cũng được. Ở đây, người ta nói chuyện hoặc nghe người khác nói chuyện. Ở cái nhà ấy chủ khách nói chuyện tay đôi, tay ba, tay tư…Tùy! Khách nói chuyện với nhau, hợp nhau rủ nhau đi sang nhà nhau chơi, quên luôn nhà bác. Ở nhà bác, trò chuyện với nhau thấy khoái thì off, kết bạn thật, đi nhậu chơi.

Tôi hay la cà, thấy nhà ai mở cửa, có tiếng ồn ào thì ngó vào nghe chơi, thỉnh thoảng thôi, ngứa miệng nói một câu vô thưởng vô phạt chẳng chết ai. Lang thang gần giáp vòng mới thấy nếu viết nên xác định rõ mục tiêu: viết để tự giải tỏa mình hay tìm kiếm sự chia sẻ ngoài xã hội, mong kết giao thêm bạn bè hoặc tất cả các mục tiêu trên (nghe giống Game show). Thấy bác có vẻ quảng giao, chắc tham lam quan hệ bạn bè. Vậy là vất vả đấy. Vì bác phải làm chủ được ngôi nhà đông khách. Kể chuyện cho người ta nghe, khởi xướng đề tài câu chuyện, đối đáp với nhiều người, đào sâu chuyện riêng, hư cấu tí tỉnh… Rất mất thời gian. (Bọ Lập xưa kia viết ào ào một hồi rồi tá hỏa vì mất nhiều thời gian quá, đành khất một entry/tuần, nay thấy đi mượn cũng nhiều nhiều). Ai cũng vậy thôi, sa vào cái chuyện viết lách là nó phiền ở mấy cái: phải có vốn sống, trải nghiệm, phông nền văn hóa, có sức đọc, sức nghĩ và sức viết. Có sức rồi lại phải có tài viết sao cho hay, cho duyên, có thủ thuật làm nhựa dính chân người đọc (nếu đó là mục đích). Cái tài này do năng khiếu và tập luyện nhiều viết mới lên chân (quên, tay). Kiến thức rất quan trọng nhưng Blog không phải là cái kênh để khoe khoang và phổ biến kiến thức. Kiến thức là phương tiện thôi. Người đọc muốn hơn là tìm thấy một góc nhìn mới, một cách nghĩ, cách cảm mới làm họ suy nghĩ và xúc cảm. Bác mong mình được nhẹ nhàng hơn, vui hơn thì dễ chứ mong lấy được tiếng khóc câu cười của người đời thì e rằng khó (trừ khi bác gặp người động tí là khóc, là cười!).

Vậy nên mới thấy có nhiều blog đầu tiên vui như hội, sau nhạt dần. Có cái hóa nhảm nhí và sống lay lắt, có cái chết hẳn vì chủ nhà mệt mỏi, cạn kiệt, chán chường. Tủ sách trong nhà sẽ đỡ bụi bám, Google ta lướt nhanh như gió, ta năng lượm lặt câu hay, ý lạ trong blog bạn bè, ngoài quán nhậu vỉa hè, ta đào bới bản thân đến xác xơ ra…rồi cũng đến hồi kết, khi ta thấy ta cũng chán chết!

Xác định vậy rồi thì sợ quái gì, cứ vui. Mệt mỏi, ta đóng cửa quán, đi làm việc, đi chơi. Mình có lấy sự viết lách để mưu sinh đâu mà lo. Nó là thú vui thôi, không phải nghề thì cũng chẳng sợ có lúc duyên nghiệp bẽ bàng.

Tôi lang thang trên mạng, thấy có cái cô kia viết blog hay phết. Văn thơ rì rào róc rách đào nguyên mỗi ngày, tao nhân mặc khách túm năm tụm ba hít hà khen tụng lẫn nhau, sướng nấc lên. Đến một ngày, có một thằng mả mẹ nào đó làm một cái blog giả y chang, nói lung tung xà bần. Chủ nhà (thật) tức quá trách móc mắng mỏ. Bạn bè xúm lại bênh vực, xỉ vả thằng khốn nạn kia. Có chú rắp tâm rủ thằng “ngụy” này offline nhậu để giáo dục vì cho rằng thằng này có ẩn ức gì nên thái nhân cách. Có chú hung hơn, gạ offline đánh nhau cho thỏa chí Lục Vân Tiên. Cha chả! Rồi cũng êm êm. Cô chủ này ngộ ghê, kể cả nhiều lúc không có Entry nào nhưng vẫn đều đặn mỗi ngày thổi ra một cái blast bong bóng là câu thơ, câu văn rất hay ho và bí hiểm (Lúc là của mình lúc của người khác để nguyên hoặc modified cho nó nhộn). Toàn những lời có cánh cả! Thế là nhân dân ta lao vào comment búa lua xua. Làm tao đàn nguyên súy thích ơi là thích! Thơ con cóc thi triển vang lừng hẻm núi. Riết rồi cũng thấy nhàm, nhạt dần đi. Nàng ấy nói hồi đầu mỗi ngày nướng 6 giờ vào cái blog yêu quý như ma túy này, sau bận quá hạ quyết tâm mỗi ngày không quá 60 phút. Thế là đúng chứ cứ vậy hoài không làm ăn gì cả có mà bốc cám (chưa chồng mà). Entries nàng viết có cái hay, có cái cảm giác như vừa viết vừa ngáp ngái ngủ. Đấy, bác bảo cứ thế thì biết “nàm xao bi giờ”?

Tôi xui bác thế này: không cần tuyên ngôn to tát gì, bác cứ điềm tĩnh mà viết, viết chậm rãi. Hứng mới viết, không hứng thì thôi, đừng viết như trả nợ lại tạo áp lực cho mình. Nghe khen thì ai chả thích nhưng đừng thích quá, đê mê ngủ gật. Si-rô, nước mía xã hội tuy ngọt nhưng uống nhiều dễ đau bụng. Mà đừng tham rộng, nên viết sâu cái sở trường, cái tâm đắc nó mới thỏa chí mình và lôi cuốn được người ta. Đừng giải thích ý tôi thế này, tình tôi thế kia. Tình hay ý nó bốc hơi, tỏa hương lên từ bài viết, câu văn. Đừng có loạng quang sang cái xứ “sở đoản” mà đâm hỏng việc, hỏng hình ảnh của mình. Chữ nghĩa nó có mắt, lại giết được người. Chết dưới tay (hoặc dưới chân, tùy) các nàng thì chả sao cái đời trai, chứ chết dưới chữ thì băn khoăn oan gia lắm, bác ơi!