Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010
Gốc (tiểu luận / nhận định của Phạm Thị Hoài)
Mỗi lần nghe nhắc: mất gốc là người nghệ sĩ mất nguồn sáng tạo, tôi lại có cảm giác không yên ổn. Như thể mình đang là một công dân đứng đắn của quốc gia nghệ thuật, mà thỉnh thoảng đội bảo vệ cứ gõ cửa, hỏi xem mình có cần họ giúp gì không. Cũng gần giống cảm giác như khi bị nhắc, rằng nghệ thuật muốn thế nào cũng phải phát sinh từ hiện thực. Kết quả là tôi vô cùng biết ơn gốc rễ, hiện thực với mọi quê hương và căn cứ địa khác của nghệ thuật, cũng như biết ơn đội bảo vệ sốt sắng ấy, song trong thâm tâm thì bắt quả tang mình mong các quý vị đó đừng ở chơi quá ba ngày. Phần đông các nghệ sĩ không sáng tạo gì hết. Một số ít sáng tạo trong một giai đoạn ngắn. Một số vô cùng ít sáng tạo tương đối lâu dài. May ra đếm trên đầu ngón tay được những nghệ sĩ suốt đời sáng tạo trong lịch sử nhân loại. Như vậy tìm ra nguồn cơn của sáng tạo thì khó, và điều đó mãi mãi là bí ẩn, chứ một lần nữa cho sự không sáng tạo thêm một nguyên cớ nào có ích gì. Nhà văn Việt ở bên ngoài có thể cho rằng mình không viết nổi, vì thiếu nước Việt chẳng hạn. Nhà văn Việt ở bên trong, nếu viết cũng không nổi, liệu có phải vì quá thừa nước Việt chăng?
Tôi vốn tin rằng, người ta dù theo nghĩa nào cũng không thể mất gốc. Một là, nếu không có, chưa bao giờ có một gốc rễ nào đó, thì mất nó khác nào mất con cá ở ngoài lưới, một con cá thật to. Những thế hệ con cháu chúng ta ở hải ngoại, tuy được mệnh danh là người Mỹ, người Pháp... gốc Việt, nhưng chữ ‘gốc’ này cùng lắm chỉ tiết lộ đặc trưng chủng tộc chứ không phải đặc trưng văn hoá. Song chu trình con gà và quả trứng áp dụng vào chủng tộc và văn hoá đã lộ rõ nhược điểm của nó, từ ít nhất hai thập kỷ nay chúng ta coi chủng tộc không là gì khác hơn một trong những chức năng của văn hoá, chứ chiều ngược lại không vận hành. Những thế hệ ấy bắt rễ trong văn hoá của những quốc gia phát triển phương Tây, họ không thể đánh mất văn hoá Việt, là thứ họ không sở hữu. Chữ ‘gốc’ thứ hai này mới thật sự. Thậm chí chữ ‘gốc’ thứ nhất nói trên, dùng cho họ, tôi cho là đã khiên cưỡng. Chẳng những các thói quen, hay là bản năng thứ hai, mà bản năng thứ nhất ở những thế hệ ấy cũng đã thay đổi đáng kể. Chỉ cần xem da họ phản ứng thế nào với ánh nắng và độ ẩm nhiệt đới, và răng họ mắc hay không mắc những bệnh gì là đủ. Không cần phải là một chuyên gia dân tộc học cũng xác nhận được, khoảng cách giữa người Việt Kinh ở trong nước với người Mỹ gốc Việt chẳng hạn, ít nhất cũng bằng giữa người Kinh với người Mèo. Chúng ta thường cảm động trước những cố gắng tìm hiểu về Việt Nam của họ và gọi đó, một cách đầy thiện cảm và cũng đầy mơ hồ, là những cố gắng ‘tìm về cội nguồn’. Nhưng ai có thể chắc chắn nên đẩy cội nguồn đến mốc thời gian và không gian nào trong quá khứ? Đi ngược vài ba thế hệ để về đến hai đồng bằng châu thổ lớn của nước Việt, hay có thể triệt để đi tiếp, về hướng những khu rừng Đa Đảo chăng? Chúng ta lại càng nhiệt tình khích lệ họ viết tiếng Việt. Trong phần lớn các trường hợp ăn giải khuyến khích như vậy, phẩm chất văn chương mà biểu hiện hiển nhiên nhất là ở ngôn ngữ, xếp hàng cuối cùng. Tôi không muốn làm kẻ phá đám ‘khuyến Việt’, song phải nhận là thương tiếng Việt như thế cũng khổ cho tiếng Việt lắm thay!
Quyết định viết bằng một ngôn ngữ nào là kết hôn với nó cả đời, hưởng nó mà cũng chịu đựng nó, thậm chí cắn răng mà chịu, đúng theo nghĩa đến chết mới chia ly. Cuộc hôn nhân thủ cựu, hà khắc, trói buộc này thông thường không phải là phòng thí nghiệm hay hãng du lịch. Ở đa số tác giả thử viết bằng tiếng Việt nói trên, tôi có cảm tưởng đôi bên còn chưa cầm tay nhau, trong khi rất có thể họ đã ăn nằm như thế nào đó với một bản ngữ khác. Cảm giác chưa cầm tay nhau đương nhiên rất phỉnh nịnh và quyến rũ, khiến người chưa vỡ tiếng Việt có thể lâng lâng bay như trên lưng ngựa Phù Đổng, trong khi người dày dạn lại như bò lê dưới gánh nặng mà dân tộc Việt có thể trút xuống một thành viên đơn lẻ của mình. Có lẽ không cần phải quẩy trọn gánh ấy mới là mang quê hương theo, tôi biết vô số người đã trút quá nửa gánh ấy xuống dọc đường di tản mà vẫn còn nguyên là người Việt. Nhưng cưỡi ngựa mà xem hoa như nói trên thì ít liên quan đến việc tìm cội nguồn Việt. Cách đây không lâu tôi đọc một truyện ngắn của một tác giả gốc Việt viết tiếng Anh. Bản dịch tiếng Việt chỉ cho thấy đấy là văn dịch, không tiết lộ một văn phong riêng tư gì đã đành, mà cố hình dung bản gốc tôi cũng chẳng tìm được một điều gì nhất thiết liên quan đến ‘Việt tính’, song truyện ngắn đó được giới thiệu đại loại là nghệ thuật của một thế hệ tuy đã dùng ngôn ngữ khác, nhưng vẫn ‘man mác tâm hồn dân tộc’. Tôi hy vọng dân tộc Nga chẳng hạn, không đi tìm dấu vết của tâm hồn mình trong ‘Lolita’. Còn Kafka, liệu dân tộc nào giành được bản quyền tâm hồn mình ở đó?
Hai là, nếu một gốc rễ nào đó từng tồn tại, thì không dễ gì mất hẳn. Vốn liếng của một cộng đồng văn hoá cấp cho mỗi người khi bước vào đời có phần khác với món gia tài của cha mẹ để lại. Khả năng hoàn toàn phá sản ở trường hợp thứ hai có thể xảy ra qua đêm. Ở trường hợp thứ nhất, không dễ dàng mà thành trắng tay như vậy. Vốn liếng ấy giống tuổi thơ, có thể giống cả mối tình đầu, giống lần thứ nhất nhìn thấy biển, nếu muốn thì giống lần đầu tiên đi xem hát nữa. Tôi rất tránh dùng những cách nói, đại loại như ‘tìm lại tuổi thơ’, hay ‘mối tình đầu đã mất’, và đương nhiên là bất đắc dĩ mà dùng ‘tìm về cội rễ’. Người ta mang những thứ ấy trong mình tự nhiên chẳng khác gì mang mẩu ruột thừa sót lại từ thuở tổ tiên gặm cỏ, để lấy ví dụ khiêm tốn nhất. Lắm người phải cắt nó đi mới sống được, còn lại không mấy ai dành cho nó lấy một nửa ý nghĩ. Ấy quả là vật thừa duy nhất trong cái cơ thể được chức năng hoá hoàn hảo của chúng ta. Có lẽ cũng thừa như các vua Hùng trong mỗi ngày đi làm, đóng thuế, kẹt xe và viết vô vọng vài trang truyện ngắn của một người Việt nơi đất khách. Tôi mang nó, từ khi mới đẻ, và hài lòng rằng nó chưa bao giờ viêm lên. Nhưng tôi không hình dung được con đường ‘tìm về’ mẩu ruột thừa ấy.
Lại lấy ví dụ một người từng sinh trưởng trong tiếng Việt. Là ngôn ngữ của một xứ phương Nam, nơi hoả vượng mà vạn vật khuếch trương hương vị như cách lý giải của người xưa, tiếng Việt giàu vốn từ chỉ tỉ mỉ từng sắc thái, cấp độ của muôn loại mùi chẳng hạn. Hẳn cũng vì hoả vượng, mà những mùi khó chịu cũng được cơ hội bành trướng. Mùi phân mèo thì chua, mùi phân gà hôi, phân trâu hắc, phân lợn nồng, phân trẻ con thum thủm, phân người lớn thối, còn mồm ai đó thì thối hoắc. Mùi và tình trạng thực phẩm hỏng trong bếp Việt mới thực đa dạng. Cá thì tanh, thịt thì ôi, cơm thì khê, rau thì oi khói, dưa thì khú, mắm thì khắm, gạo thì hẩm, trứng thì ung, khoai thì ủng, cháo thì vữa, canh thì thiu, lạc thì mốc, mỡ thì khét lẹt... Sau này người ấy sống hẳn ở một xứ lạnh, hoả chẳng vượng, vạn vật không phát hết mùi, mũi xứ người chắc cũng nhạy không kém mũi xứ ta, nhưng tiếng nước người cho chân thối, cá thối, tiền thối, chính trị cũng thối như thế cả, muốn phân biệt phải dùng thêm từ mô tả, không có chữ nào, chỉ bằng chính nó, thoả mãn cái biết của khứu giác như trong tiếng ta. Một lúc nào đó, người ấy thậm chí có thể quên cái vỏ âm thanh của những từ Việt chỉ mùi, nhưng bản thân những mùi đã từng có một tên riêng ấy, từng là những thực thể đặc thù ấy, trong sâu thẳm không dễ gì hoà chung làm một với ‘thối’ và chỉ ‘thối’. Theo tôi, giữ được mùi quê như thế, thụ động và ở tít một nơi ẩn khuất nào đó trong lòng, đã là bảo quản gốc gác. Với người viết, ai biết giữa một mùi mong manh đã mất tên và một nền tảng nhận thức được mệnh danh chắc nịch, cái gì dư sức khuấy động hơn?
Cộng đồng Việt nhỏ bé ở bên ngoài lại có một phẩm chất đặc biệt: nó bảo tồn rất nhiều khía cạnh văn hoá Việt mãnh liệt và cuồng nhiệt hơn ở chính quốc. Một lúc nào đó, tôi e rằng các học giả muốn truy tìm dấu tích lịch sử của dân tộc Việt, thay vì đi Hà Nội có lẽ phải đến Quận Cam. Cội rễ có thể bị bật tung tại chính chỗ phát sinh, nhưng lại dai dẳng sống sót ở những vùng biên xa xôi nhất. Việt Nam hải ngoại là một vùng biên như thế. Xin lấy già nửa thế kỷ lưu lạc của văn chương tiền chiến làm ví dụ. Lấy lời than năm 1917 của một trong những nhà khuyến Việt nhiệt thành mà bi đát nhất, Phạm Quỳnh, làm mốc, rằng quốc ngữ khi ấy còn sài đẹn ấu trĩ như tiếng bi be của đứa lên ba, khiến bậc cao sĩ ‘ngồi hầu chuyện các văn-nhân thi-sĩ nước Tàu nước Tây vẫn còn sướng hơn’, và ‘trong khi họp-tập năm ba anh em ngồi với nhau, bàn những chuyện thiết-tha, nói những điều tâm-sự, mà đương câu chuyện phải pha một hồi tiếng tây hay điểm mấy câu tiếng tàu’, thì tiếng Việt không đầy hai thập kỷ sau của văn chương tiền chiến là một thành quả vĩ đại. Hai thập kỷ sau nữa nó đã ngắc ngoải, và chậm nhất là sau Hiệp Định, miền Bắc đã kết thúc thời kỳ quá độ ngôn ngữ, để các thế hệ sau đó có thể yên tâm mà nói giọng hiện thực xã hội chủ nghĩa thuần khiết. Thế hệ tôi quả là miệng không uống giọt sữa nào, bút không chấm giọt mực nào của tiền chiến. Lại hai thập kỷ sau, nếu nước Việt không tái thống nhất, có lẽ tôi chẳng có dịp thử nếm mùi vị của một quá khứ không xa ấy. Cả một nền văn hoá tiền chiến theo chân người-Bắc-54 di cư mà cố thủ trong lòng hồi cổ, và sinh sôi trên mảnh đất Nam Bộ vốn không quá khắt khe. Rồi lại hai thập kỷ sau nữa, Nam Bộ ấy đã đổi khác, muốn gặp văn chương tiền chiến phải tiếp tục di tản, giạt mãi tới vùng chót, bám gót người Việt hải ngoại. Ở tít nơi hạ nguồn này, một thành quả từng là vĩ đại mãi mãi là vĩ đại. Một nửa thế kỷ chen vào giữa không có giá trị gì. Tôi từng ngẩn ngơ, khi đọc thơ của một tác giả hải ngoại cùng lứa, thấy ‘xuân mộng, hồn mơ, cõi tiên, quan san, tống biệt, hận thu, đêm liêu trai, trăng mất ngủ, gió về đâu, sầu mấy kiếp, lệ vơi, tình rơi, đời ơi, trời hời...’, như lạc vào bảo tàng văn học. Như vậy cũng có thể phỏng đoán, chẳng hạn tiếng Việt hiện thực xã hội chủ nghĩa nếu có mất mát tại chính quốc, chắc còn chỗ trú lâu dài nơi người Bắc tị nạn đời mới tại Đông Âu. Bảo hoàng hơn vua phải chăng là tính cách muôn thuở của tỉnh lẻ? Như thể càng xa nguồn càng bị trói không giãy nổi khỏi nguồn? Như thể văn chương Việt hải ngoại đau ruột thừa triền miên mà không dám cắt phăng cái mẩu nợ nần ấy.
Vào chính lúc này, khi xã hội Việt Nam ở bên trong đang lên cơn truyền thống dân tộc, như nó đã từng lên những cơn kích động kỳ lạ khác mà không sẵn rơ-le tự ngắt, liệu một nhà văn Việt ở bên ngoài có nên mạnh dạn vứt đi chiếc cân tiểu ly thường thủ sẵn trong tay áo, bên này là dân tộc, bên kia là thế giới, hay không. Cái dụng cụ tinh tế ấy chưa từng dùng được cho một tác phẩm nặng cân nào của văn học Việt đương đại. Vả lại, cái đầu của nhà văn Việt thì hoan nghênh một sự hài hoà kết hợp, mà lòng thì nghiêng về truyền thống hơn. Văn chương Việt ra ngoài nước ắt có sứ mệnh làm một nền-văn-học-đau-lòng-con-cuốc-cuốc, lại càng viết bằng bụng nhiều hơn bằng đầu, yêu cái đã có hơn đam mê cái chưa có, ngoái nhìn cội rễ xa ngái hơn khao khát những vùng đất lạ ở sát nách, chăm bẵm những lý tưởng nghệ thuật của cha ông mình để lại như con đẻ, còn lý tưởng của cha ông kẻ khác là con ghẻ, bằng mặt mà không bằng lòng. Tôi không dám cho thế là dở. Nếu cái đã có đủ đồ sộ thì ở tù trong đó chắc cũng được sung sướng. Có lẽ nhiều người mãn nguyện như thế hơn tôi tưởng. Khi đọc D.H. Lawrence chẳng hạn, tôi không bất giác coi ông là nhà văn Anh dù ông viết tiếng Anh về nước Anh, sau này vỡ lẽ rằng ông cả đời lưu lạc. Còn khi đọc một số đồng nghiệp Việt ở hải ngoại, tôi thành thật xin lỗi vì nhận xét không ưu ái này, tôi bất giác cho rằng họ chưa bao giờ rời nước Việt, mặc dù các nhân vật của họ đi gần khắp thế giới, chỉ trừ đi Phi đen. Văn học Việt hải ngoại không thiếu Việt Nam. Mà thiếu thế giới.
Ngay cả sự thiếu thốn tiếng Việt ở bên ngoài, quả là xác thực, nhưng tôi cũng cho đó là một trở ngại cần thiết. Rút cục thì chúng ta đáng được cái handicap này thử thách hơn là những chướng ngại khác từng biết. Mỗi người cầm bút đều hơn một lần than thầm, hoặc kêu ầm lên, về sự bất lực của ngôn ngữ, rằng ngôn bất tòng ý, bất tòng tình. Như thể điều mình muốn diễn đạt vượt quá sức tải của ngôn ngữ. Cá nhân tôi không công nhận cái bi kịch nghề nghiệp đó. Tôi cho rằng ngôn ngữ cũng như thời gian, không biết thế nào là đủ, nhưng ai cũng có một phông thời gian và một kho từ ít nhất là vừa đủ dùng cho chính mình. Vốn liếng ấy không thể bất cập nhu cầu của bản thân, mà chỉ bất cập với nhu cầu của kẻ khác. Nếu chỉ thuần túy sống trong môi trường ngôn ngữ Việt, dù có là một thiên tài chăng nữa cũng chỉ đi đến hết cái giới hạn của tiếng Việt hiện có, hay nói cách khác, lên đến đỉnh cao của những nhu cầu diễn đạt hiện tại của dân tộc. Có trời chứng giám là những nhu cầu ấy tự biết chừng mực của mình. Tôi xin trở lại câu chuyện ngôn ngữ vào một dịp riêng khác, ở đây chỉ xin lưu ý rằng, trong suốt lịch sử văn học và lịch sử phát triển tư tưởng Việt Nam, không một nhà lập ngôn quan trọng nào của chúng ta không cùng một lúc đứng vững chãi cả hai chân, một trong tiếng Việt nôm, và một trong một ngôn ngữ khác. Chính sự bất lực tạm thời của tiếng Việt trước nội dung cần diễn đạt của một cộng đồng ngôn ngữ khác như chúng ta hằng chứng kiến trong cuộc sống lưu lạc, vâng, chính nó là cái may trong cái rủi của nhà văn Việt xa xứ. Ta hãy xem hắn có những cơ hội gì:
Hắn có thể vừa bị cuốn theo ông chủ ngôn ngữ mới, vừa trung thành trong giới hạn cho phép với chủ cũ, là vốn liếng tiếng Việt mang theo. Trong trường hợp này, sớm muộn hắn cũng rời bỏ văn chương tiếng Việt. Mỗi năm viết dăm bảy trang là cố gắng cuối cùng của hắn, để chăm sóc một kỷ niệm về tiếng Việt hơn thực sự dùng tiếng Việt. Rồi hắn sẽ thử viết bằng ngôn ngữ mới. Bằng một ngoại ngữ. Và có cảm tưởng mình cũng không tồi. Dường như sự tầm thường của hắn trong tiếng Việt có thể biến mất trong ngoại ngữ, chí ít hắn trở nên khúc chiết và ít bay bướm hơn. Tuy mỗi khi trở về với tiếng Việt, hắn lại xoàng như cũ, nhưng điều đó không quan trọng, vì chẳng cộng đồng văn chương nào thiếu bóng những thành viên như thế. Quan trọng là, hắn không còn đặt kỳ vọng ở tiếng Việt, và đấy là sự giải phóng: giải phóng hắn, để hắn tự do đi tìm một ngôn ngữ khác. Và giải phóng tiếng Việt. Khỏi một mối tình hờ. Công cuộc giải phóng này không thể xảy ra ở Việt Nam.
Hoặc hắn quyết liệt tẩy chay cái ngôn ngữ lạ mặt kia ngay từ đầu, và trong thế phòng thủ đơn độc cũng có thể kiêu hãnh mà đi hết giới hạn đã định của mình. Văn giới Việt Nam hải ngoại biết không ít những cuộc đi nhẵn nẻo đường cùng như vậy. Giãy chết cũng có thể hùng tráng, và tang lễ hoàn toàn có thể đẹp.
Hoặc hắn phải nhảy vọt. Vượt khỏi một lãnh thổ ngôn ngữ, một giai đoạn ngôn ngữ, một số phận ngôn ngữ cho trước. Tôi tin rằng, sinh lực của Việt ngữ phụ thuộc vào những thành tựu vượt rào như vậy, chứ không nhất thiết còn hay mất ở việc vốn từ bên ngoài có bị tiêu lẹm, có kém cập nhật chút ít so với ở Việt Nam.
Tiếng Việt trong nước quả nhiên có những cách nảy nở riêng của nó, và công trình ngôn ngữ của một tập thể gần tám mươi triệu người nhất định là trên tầm cỡ của một cố gắng cá nhân. Khu vực ngôn ngữ chính trị không mấy tiến bộ, ngôn ngữ của các khoa học nhân văn cũng dẫm chân tại chỗ, của các ngành kinh tế và kỹ thuật phát triển chắp vá và vô chính phủ, ‘quan thoại’ của Việt ngữ tại chính nước Việt thì ngủ kỹ, nhưng bù vào đó, ‘bạch thoại’ rực rỡ hơn bao giờ. Tôi có cảm giác rằng, người Việt chưa từng ăn nói lắm kiểu hấp dẫn, khôi hài, giàu liên tưởng và mắc những lỗi ngôn ngữ tuyệt vời như trong vòng một thập kỷ nay. Nôm hiện đại đang ở đỉnh cao, tuy vẫn không phải là ngôn ngữ lý tưởng để suy tư trừu tượng hay thúc đẩy luận lý, nhưng dồi dào để diễn đạt những tâm tình và kinh nghiệm trực quan của thời đại. Nếu muốn thì gần như bất kỳ ai trong các nhà văn Việt hải ngoại cũng có thể mỗi năm về ‘vỗ béo’ tiếng Việt đã gầy guộc chút ít của mình ở đó. Song nhu cầu Việt ngữ của văn giới hải ngoại xem ra không cấp thiết đến mức như vậy. ‘Bạch thoại’ của miền Nam trước bảy lăm mang theo đến giờ còn dùng đủ, còn up-to-date lắm. Nếu ngày mai, lý do lưu vong của chúng ta không còn nữa, liệu có bao nhiêu nhà văn Việt đang sống ở hải ngoại, chỉ vì cái nghiệp của tiếng Việt, chỉ vì e ‘mất nguồn sáng tạo’, mà quyết định trở về?
Phần mình, tôi ra khỏi Việt Nam vài năm trước, công việc cho phép gặp vô số nhà văn sống lưu lạc, đến mức tôi có cảm tưởng rằng, du mục là một trong những điều kiện nghề nghiệp của một nhóm văn sĩ càng ngày càng đông đúc. Quê hương họ là những cuộc hành trình. Phản bội quê hương là dừng lại quá lâu một chỗ.
Phạm Thị Hoài
(Chưa bình luận gì được gì về bài viết này vì thực sự là cần nhiều thời gian để đọc và cảm nhận. Hình như trình độ đọc hiểu của mình đang ngày càng suy kém thì phải.)
Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2010
Phản biện tí
Ai mà chả muốn giữ biển, giữ biên cương lãnh thổ? Bài này sẽ chia ra các phần Question, Fact và Bình “Lựng”, cho nó tiện, hén.
Question: Ai có khả năng giữ biển đảo, biên cương lãnh thổ?
Fact:
Hải quân chính quyền Sài Gòn đánh một trận năm 1974, thua chạy, mất hết cả quần đảo. (Xin nói trộm vong linh người đã khuất, là tuy đánh thua nhưng về còn được huân chương!)
Mấy ông “khúc ruột” bên nước ngoài không có quân đội, cũng không có thế ngoại giao. Hồi đó, mấy ổng cũng từng có quân đội, súng ống và “đồng minh” hùng mạnh bậc nhất thế giới, nhưng vẫn thua.
Hải quân QĐND Việt Nam đánh, các chiến sĩ hy sinh, mất Gạc Ma, nhưng nhiều đảo còn giữ được cho đến tận bây giờ.
Question: Dựa thế nước to được không? Nước to nào đây?
Fact:
Có nước to đang khủng hoảng kinh tế, bận đánh nhau vài ba nơi đang còn chưa ngã ngũ, mà anh nước to này đã từng đi đêm với anh nước lạ. Còn một nước to khác đã từng phụ trợ ta đánh nước to kia, và khá là chung thuỷ, nói một cách tương đối.
Trong lịch sử Việt Nam cận đại, chỉ thấy có một lực lượng có thể huy động, tổ chức làm các việc lớn thành công. Ai dám phủ nhận vai trò của người lãnh đạo, của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ trong trận Bạch Đằng, Đống Đa? Có người nói “Nếu” thế này thế nọ. Ở đây không bàn chuyện “Nếu”, sự thật lịch sử chỉ có một mà thôi. Thế mới gọi là Fact.
Bình lựng:
Các blogger giữ biển đảo được không? Chưa rõ, hehe, nhưng tui nghi lắm. Tui chắc rằng một số blogger sẽ sẵn sàng gia nhập quân đội một khi lâm chiến, nhưng phải có người chỉ huy giỏi mới thắng. Vậy ai chỉ huy đây, hỡi các blogger, và quý vị có tuân lệnh chỉ huy không hay lại cãi lộn xà ngầu như một hợp tác xã thợ mộc?
Các blogger dường như không nghe, không biết chuyện mua sắm tàu ngầm, phi cơ, hay chuyện tuần tiễu của ta đuổi hàng trăm tàu lạ ra khỏi cương vực. Các blogger cũng dường như không nghe, không biết chuyện xưa, cũng từng có những người “đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tổ phụ”, vậy mà triều đình vẫn lấy lễ đãi sứ, chỉ khi nó đem binh sang đây mới đánh cho phải chui vào ống đồng mà chạy, thấy thảm hại luôn.
Các blogger nói rằng sự đồng thuận là sức mạnh, phải có tinh thần Diên Hồng. Tui nghĩ không phải người ta không biết lòng dân đâu. Sợ rằng người ta biết rất rõ, nhưng vì thế nước, người ta phải tính. Vậy mới phải có người chỉ huy, chứ để cho binh nhì định chiến thuật chiến lược, tui e là dân ta nói tiếng Quảng Đông lâu rồi. Mà cái người chỉ huy này hồi nào đến giờ thắng nhiều rồi, có uy tín đấy.
Question: Có thằng hàng xóm định lấn sân. Có ông chiến binh trong nhà, từng thắng nhiều trận, nhưng không to mồm, không cãi cọ, nhiều lúc nhịn nhục và bảo người thân trong nhà đừng có cãi nữa, nhưng ngấm ngầm đi sắm mã tấu và rào lại hàng rào. Một bên là các thành viên trong nhà om sòm chửi lại, và có mấy ông họ hàng ở xa chẳng có kế sách nào ra hồn, mã tấu thì không có, đánh trận nào thua trận nấy, lại cứ về hùa với con cháu trong nhà chửi um lên. Chọn ông nào giữ nhà đây?
Trả lời thế nào, là quyền của quý vị.
Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010
Lẩn thẩn
Cá nhân tớ thì cho rằng ở thời kỳ ấy, ngày nào Hà Nội cũng có lệnh báo động máy bay Mỹ ném bom nên lâu dần người dân đã quen dần với nếp sống có bom đạn. Tớ cho rằng ấy là sự thích nghi với hoàn cảnh mà thôi. Chính vì vậy, cái chuyện “bưng bát phở ra hố cá nhân sát mép nước Hồ Gươm ăn tiếp” cũng chỉ là việc bình thường mà thôi chứ cũng chả phải là hoành tráng văn học gì.
Chừng nửa đêm qua lúc đi ngủ đọc tiếp cái tản văn “Giấc mộng ông thợ dìu” của Tô Hoài. Đến cái truyện “Người chơi tranh” kể về quán Cafe Lâm của Lâm Toét thấy cái có đoạn “…Quán cà phê Lâm vẫn đông. Bom ném xuống ngã tư, khách bưng cả cốc cà phê uống dở xuống hố cá nhân, nhấp nhô đầu lên uống nốt….” thì lại càng khẳng định thêm ý nghĩ về sự thích nghi với cuộc sống trong chiến tranh của người Hà Nội. Loay hoay bò dậy viết comment lại với Cavenui. Loay hoay một lúc ngó ra đồng hồ thì đã là 3h sáng, tự nhiên thấy mình rõ là lẩn thẩn.
Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010
Trách nhiệm của tư nhân khi tham gia liên kết xuất bản
Điều 20. Liên kết trong lĩnh vực xuất bản
1. Nhà xuất bản được liên kết với tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, cá nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh về in hoặc phát hành xuất bản phẩm và tổ chức có tư cách pháp nhân để tổ chức bản thảo, in và phát hành từng xuất bản phẩm.
2. Giám đốc nhà xuất bản tổ chức biên tập hoàn chỉnh và ký duyệt bản thảo trước khi đưa in, ký duyệt xuất bản phẩm liên kết trước khi phát hành.
3. Tổ chức, cá nhân liên kết với nhà xuất bản quy định tại khoản 1 Điều này được đứng tên trên xuất bản phẩm và liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với xuất bản phẩm liên kết.
Theo quy định của điều 20 thì có thể hiểu rằng: NXB được phép liên kết với tư nhân trong hoạt động xuất bản; NXB chịu trách nhiệm chính đối với ấn phẩm khi xuất bản: Tư nhân chịu trách nhiệm liên đới đối với ấn phẩm của mình đem đến liên kết xuất bản. Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay mọi hoạt động xử lý của các cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực xuất bản đều nhằm vào các NXB bởi 02 lý do: Giám đốc NXB là những người thuộc cơ quan Nhà nước do vậy hình thức và biện pháp xử lý sẽ dễ dàng thực hiện hơn; Chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định rõ ràng và cụ thể về cái gọi là “trách nhiệm liên đới” của tư nhân ở trong Luật xuất bản. Cho đến tận “Quy chế liên kết trong hoạt động xuất bản” ban hành vào tháng 6/2008 cũng chẳng có một chế tài nào đối với tư nhân trong quá trình tham gia hoạt động xuất bản 01 ấn phẩm sai phạm mà vẫn chỉ nhăm nhăm vào GĐ các NXB. Tớ cho rằng điều này là hoàn toàn chưa công bằng và là một thiếu sót lớn trong việc tạo ra bộ lọc các ấn phẩm xấu trước khi đến với các NXB.
Hoạt động liên kết xuất bản giữa tư nhân và NXB là hoạt động đôi bên cùng có lợi: Tư nhân tham gia bản thảo để thỏa mãn nhu cầu xuất bản của mình và phát hành để thu lợi nhuận; NXB có thêm nguồn bản thảo phong phú và cũng thu được một phần lệ phí cho hoạt động của mình. Vậy thì tại sao khi có ấn phẩm xấu của tư nhân bị phát hiện mà lại chỉ có NXB bị xử lý? Với những tác phẩm xấu khi phát hành trên thị trường thì tư nhân cũng sẽ bị xã hội lên án hay NXB cũng sẽ bị ảnh hưởng lớn đến thương hiệu. Tuy nhiên, tớ cho rằng không nên trông chờ vào “đạo đức” của tư nhân cũng như hy vọng vào sự nghiêm cẩm của các Biên tập viên hay sự gìn giữ thương hiệu của các NXB một cách hình thức. Mặc dù đặt trách nhiệm của các NXB lên cao nhất nhưng rõ ràng cũng cần phải có hình thức chế tài rõ ràng đối với trách nhiệm của từng bên, cụ thể như cá nhân đưa bản thảo xấu đến NXB cũng phải chịu hình thức xử lý của pháp luật, cty liên kết xuất bản đưa bản thảo xấu đến NXB cũng phải có chế tài để xử lý thật nghiêm.
Thứ Năm, 7 tháng 1, 2010
Chuyện ô tô lao xuống rạch
Không hiểu sao mấy năm nay cái khu Chung cư nhà em ở mỗi lần triều cường lên là biến thành cái đảo. Một tháng mất 4-5 ngày bị triều cường, từ 5h30 tối tới 9h tối và từ 6h30 sáng cho tới 9h sáng thì nước mới rút đi. Mà lúc đỉnh triều thì thường là nước ngập ngang bánh xe em, những hôm triều cường lên cao thì lút bánh là chuyện bình thường.
Xe em thì mới lấy. Mới chạy về nhà được vài hôm. Sáng ngày hôm trước ngày xảy ra tai nạn thì cũng là ngày triều cường lên cao. Em lấy xe ô tô chạy đi làm. Nhưng khổ nỗi nước ngập, có cái nhà bên đường gần ra vào Chung cư nhà em che chắn để nước khỏi vào nhưng khi xe ô tô em đi qua thì nước đánh sóng sang 2 bên khiến nước vào nhà người ta, tất nhiên là em bị người ta chửi rồi
Sáng hôm tai nạn xảy ra, nước cũng vẫn lên. Mà ác thật các bác ạ: 6h30 sáng em ngó ra đường thấy vẫn khô cong, ấy thế mà 7h30 em xuống xe thì đã ngập nửa bánh. Thì tất nhiên là em vẫn phải đi làm. Đang đánh xe ra hướng đường nhựa như mọi hôm thì có ông lái xe Ford Everest bảo đi đường đất phía sau cho khỏi ngập nước. Cái đường đất ấy mọi khi em chỉ đi xe máy về thôi vì nó hơi nhỏ lại có cái cột chắn giữa để cấm xe ô tô tải. Nhưng mà em cứ thử vì biết đâu sau này sẽ có thể đi lâu dài (mỗi khi nước ngập). Nếu đi đúng luật thì em phải đi phía bên phải, nhưng cái phía ấy là phía sát với rạch nên em đánh lái sang bên trái để đi, vừa vào đầu đường là ngay cái khúc cua (hơi khuất tầm nhìn) thì em thấy có cái xe máy đi ngược chiều nên em đánh lái sang bên lề phải, ga mát quá nên lao thẳng xuống rạch luôn.
Thôi thì em vẫn tự động viên là vẫn còn may chán, lao nhanh hơn tí nữa thì cả xe và cả nhà nằm dưới cái rạch ấy rồi.
Nhân chuyện anh Hải nói về vụ Bảo hiểm, em kể luôn: Ngay từ trước khi lấy vợ hai, em đã săm soi khá kỹ vấn đề bảo hiểm trên OF và rất kết Liberty. Em đã gọi trực tiếp đến tổng đài của Liberty thì được báo lại là sẽ có nhân viên gọi cho em để thảo luận trực tiếp. Một ngày sau, có một nhân viên sale gọi là và tư vấn em rất đầy đủ. Tuy nhiên vì thời điểm đó xe em chưa có giấy tờ hải quan và hóa đơn bán hàng nên chưa thể làm hợp đồng bảo hiểm. Em đã dặn anh sale là nhắn tin cho em cái số đt của anh ấy vào máy đt của em để khi nào có hóa đơn và giấy tờ xe thì em sẽ gọi cho anh ấy để ký hợp đồng. Bặt tăm cả tuần chả thấy tin nhắn và điện thoại gì cả. Lúc đi lấy giấy tờ xe thì nhân viên bán hàng bảo em là để cô ấy làm hợp đồng bảo hiểm luôn cho. Nghĩ nể gái xinh và biết là em nó cũng sẽ được vài phần trăm trong cái hợp đồng ấy nên em đồng ý và không quên dặn là mua bảo hiểm của Liberty. Ấy thế nhưng mà khi cầm giấy tờ bảo hiểm thì em ngớ người ra vì hợp đồng bảo hiểm là ký với Công ty Bảo hiểm Dầu khí (PVI) KV Đông Nam Bộ. Vài ngày sau mới thấy cái anh sale của Liberty gọi lại cho em để thảo luận việc làm hợp đồng. Tiếc rằng em đã giao vợ hai nhà em cho PVI rồi.
Lúc ngồi chờ anh bảo hiểm đến xem hiện trường vụ tai nạn em ngồi tán láo với anh lái xe cứu hộ. Em hỏi rằng bảo hiểm nào tốt nhất, anh ấy cũng biểu là Liberty vì nó mới, chăm sóc khách hàng tốt và của nước ngoài. Em thì chả nghĩ thế: Vấn đề các công ty bảo hiểm của VN hiện nay đều là con cái của các Tập đoàn, Doanh Nghiệp nhà nước lớn nên cực kỳ ỉ lại vào bố mẹ. Ví như cái Bảo hiểm Dầu khí (PVI) chẳng hạn nó là con của Tập đoàn Dầu khí VN nên chả cần làm gì nó cũng đương nhiên có được hợp đồng bảo hiểm rất lớn từ Bố nó (như bảo hiểm các dàn khoan, nhà giàn ngoài biển chẳng hạn)....Chính vì vậy, các dịch vụ bảo hiểm khác của PVI thì em đồ rằng nó chỉ làm cho có (đầy đủ các nghiệp vụ bảo hiểm) mà thôi chứ không thực sự quan tâm đến chất lượng và khách hàng.
Thứ Tư, 6 tháng 1, 2010
Xe ngập nước và bài học kinh nghiệm của em
Bốc điện thoại gọi cho "cụ HardTop" (một chuyên gia kỹ thuật về xe Huyndai) để hỏi cách xử lý thì được hướng dẫn rất tận tình – tạm yên tâm phần kỹ thuật. Bước thứ là sau một hồi vật lộn với sự giúp đỡ của bà con xung quanh thử tìm cách kéo xe lên không đạt kết quả tớ đã gọi 1080 để hỏi số đt của cứu hộ và gọi họ đến kéo xe lên. Chờ khoảng hơn nửa tiếng thì xe cứu hộ đến nhưng anh lái xe cứu hộ đã rất chân tình khuyên tớ không nên kéo xe lên vội mà hãy gọi cho người của Công ty bảo hiểm.
Đến lúc ấy tớ mới chợt nhớ ra rằng mình có mua bảo hiểm 2 chiều của Cty Bảo hiểm dầu khí PVI ngay từ trước khi lấy xe ra khỏi showroom. Lại loay hoay tìm số đt của người phụ trách bảo hiểm chiếc xe. Lại thêm 01 tiếng chờ đợi vì anh phụ trách bảo hiểm yêu cầu giữ nguyên hiện trường cho đến khi anh ta có mặt. Đến hiện trường, bằng những động tác rất sành điệu anh phụ trách bán bảo hiểm lôi Iphone ra chụp hình. Sau một hồi ngã giá, anh phụ trách bảo hiểm và anh lái xe cứu hộ thỏa thuận được mức giá kéo xe lên và đưa xe về Trung tâm sửa chữa là 1,5 tr.
Xe về đến xưởng sửa chữa, mấy ông kỹ thuật viên ra mở nắp ca pô, rút cái cây thăm dầu máy và thăm dầu của hộp số ra xem rồi phán xanh rờn: "Xe của anh bị nước vào trong máy rồi". Được một lát thì anh phụ trách tư vấn – dịch vụ cùng với anh nhân viên bảo hiểm qua báo xe bị nước vào máy và vào trong hộp số bây giờ phải tháo máy và tháo hộp số ra để vệ sinh cho sạch lại không thì sẽ vỡ máy....blah blah blah...Tớ đếch tin, tớ lại gọi "cụ HardTop" để tư vấn, cụ bảo nước không vào được máy và hộp số đâu, ở ngoài HN anh làm nhiều xe bị ngập nước rồi, em cứ yên tâm. Tớ cẩn thận nhờ cụ HardTop nói chuyện với anh phụ trách tư vấn – dịch vụ - về phần kỹ thuật để đảm bảo chắc chắn là sẽ không cần phải bổ máy. Thế nhưng có lẽ vì làm dịch vụ nên mấy anh ở xưởng cứ vẫn giữ quan điểm cho rằng xe bị nước vào trong máy và hộp số mà bằng chứng là ở que thăm dầu của máy và hộp số có nước vào...Với sự tin tưởng vào trình độ và kinh nghiệm xử lý xe Huyndai của "cụ HardTop" tớ nhất quyết không chịu bổ máy, hộp số mà chỉ yêu cầu chỉ thay dầu máy và hộp số, sau đó thì vệ sinh sạch sẽ xe. Ký xong yêu cầu sửa xe thì tớ ra về.
Tối về nằm suy nghĩ: Tớ cũng rất tin vào việc không thể xảy ra chuyện nước có thể vào máy và hộp số, nhưng rõ ràng chuyện nước vào lẫn trong dầu máy và dầu hộp số khi xe bị đâm đầu xuống nước (như của tớ) hay ngập trong nước là điều có thể. Vậy thì không bổ máy, hộp số mà chỉ cần thay dầu như vậy liệu có đúng không? Rõ ràng "cụ HardTop" phải có cái lý gì đó khi cho rằng chỉ cần thay dầu máy và hộp số, nếu cẩn thận nữa thì đi vài ngày sau lại thay dầu máy và hộp số thêm 01 lần nữa là xong. Cuối cùng thì tớ đã hiểu ra, cái lý của nó là thế này: Khi xe lao xuống nước (hoặc ngập trong nước) thì việc đầu tiên bạn phải làm là tắt máy xe. Mặc dù khả năng ngăn nước xâm nhập vào máy xe ô tô là rất tốt nhưng rõ ràng là nước có thể xâm nhập vào dầu máy và dầu hộp số nếu cứ ngâm nước lâu. Việc tắt máy xe đi có nghĩa là bạn không cho động cơ hoạt động, nó cũng đồng nghĩa với việc ngưng chuyển dầu máy (có dính nước) đi làm mát và bôi trơn ở khắp động cơ và cô lập dầu máy cũng như dầu hộp số có dính nước ở nguyên tại khu vực của nó. Vì vậy, chẳng có lý gì mà nước có thể vào máy của bạn hay hộp số của bạn được cả, mặc dù bạn có thể nhìn thấy nước ở que thăm dầu máy cũng như dầu hộp số.
Kinh nghiệm của tớ được rút ra sau vụ này là:
- Ngay sau khi bị ngập nước xe ô tô, nếu có đủ thời gian thì bạn hãy tắt máy ngay rồi di chuyển người và tài sản ra khỏi xe.
- Khi xảy ra sự cố, sau những biện pháp cấp bách cần phải xử lý ngay để tránh thiệt hại về người và của thì việc tiếp theo bạn nên làm là hãy gọi đt cho người phụ trách bảo hiểm của mình. Nếu bạn thay đổi hiện trường (mà không có lý do chính đáng hoặc theo đúng quy định của bảo hiểm) thì bạn sẽ phải là người chi trả các hóa đơn chứ không phải Công ty Bảo hiểm.
- Bạn đừng quá tin vào những nhân viên kỹ thuật ở xưởng sửa chữa bởi nếu sửa chữa càng nhiều, thay phụ tùng càng nhiều thì họ càng có lợi, và tất nhiên, điều ấy không hẳn đã là tốt cho bạn và cho cả chiếc xe.
Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009
Thúy Nga PBN vs showbiz Việt
Mới hôm rồi được đứa bạn tặng cho 01 cái đĩa DVD của Việt Nam mang tên "Việt Nam ca hát: Mẹ, Tôi và Em" - The Best of Huynh Phuc Dien. Xem xong cái đĩa này mới nảy ra cái ý định so sánh với chương trình mà Thúy Nga PBN dàn dựng và in sang DVD. Huỳnh Phúc Điền khi còn sống và cả cho đến nay vẫn được giới nghệ sỹ trong làng showbiz Việt coi là đạo diễn dàn dựng các show ca nhạc tốt nhất ở Việt Nam. Chương trình "Mẹ, Em và Tôi" của Huỳnh Phúc Điền đã quy tụ một dàn sao sáng những ca sỹ ở cả hai miền Nam Bắc, nào Cẩm Vân, Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh, Ngọc Anh cho đến Mỹ Tâm, Hồng Ngọc, Thanh Thảo, Hồ Ngọc Hà, Hiền Thục...Được coi là một chương trình ca nhạc của những DIVA Việt Nam. Ấy thế nhưng mà xem thì thấy đạo diễn chương trình "gò" nhiều quá, quá nặng nề khi chạy theo cái khuôn chủ đề "Mẹ, Em và Tôi" để rồi bày ra những màn trình diễn khó hiểu. Đã bị gò theo khuôn chủ đề của chương trình rồi nhưng thế chưa phải là hết, mỗi bài hát lại bị "gò" thêm một lần nữa với cách minh họa rất thô như kiểu: Cẩm Ly hát bài "Mẹ tôi" thì y như rằng là người mẹ tần tảo, ngóng chờ con như lời bài hát...Bố cục sân khấu và ánh sáng cho chương trình cứ tối mù tối mịt, nhiều lúc chả rõ mặt ca sỹ. Túm lại là chán toàn tập bởi hỏng mất phần nhìn, tàm tạm phần nghe, đau đầu phần ý tưởng...không mang lại cho tớ sự giải trí đúng nghĩa đen của nó.
Với Thúy Nga PBN thì khác. Thúy Nga có lợi thế khá nhiều trong phần đạo diễn sân khấu và ánh sáng bởi đội ngũ chuyên nghiệp và nhà hát hiện đại hỗ trợ gần như tuyệt đối mọi ý tưởng sáng tạo. Dàn ca sỹ của Thúy Nga dù có già nhưng cũng được bổ sung một phần với lớp trẻ Việt kiều và một vài ca sỹ trong nước bay sang. Hòa âm, phối khí và múa phụ họa của Thúy Nga thì thôi rồi, kính thưa các anh chị trong vũ đoàn ABC hay Hoàng Thông cứ gọi là xách dép chạy dài dài. Ấy nhưng có một điểm yếu chết người của Thúy Nga là họ đang mất dần đi lớp khán giả của mình mà không có sự thay thế hay bù đắp. Nói cho chính xác thì thực ra lớp khán giả xem Thúy Nga bây giờ lại chủ yếu là lớp khán giả trong nước xem qua DVD lậu (như tớ chẳng hạn). Tại sao vậy? Câu trả lời rất đơn giản: Năm 1975, vài trăm ngàn người Việt di tản qua Mỹ, Pháp, Canada. Đây là thế hệ thứ nhất của khán giả Thúy Nga (và Asia, Làng Văn...); 15 năm sau, những đứa trẻ ra đời trên đất Mỹ hay sang Mỹ (năm 1975) vào cái tuổi lên 5 lên 7 đã bắt đầu trưởng thành để trở thành thế hệ khán giả thứ hai của showbiz Việt tại Hải ngoại trong đó có Thúy Nga; 35 năm sau, vẫn còn đó những lớp thế hệ khán giả cũ của Thúy Nga nhưng những đứa trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên tại Hải ngoai giờ đây đã bắt đầu ít quan tâm đến showbiz Việt, họ hòa nhập thẳng với showbiz của thế giới nơi chúng sinh ra và lớn lên. Lớp trẻ này dần dần mất gốc Việt dù dòng máu họ mang trong người vẫn là Việt Nam. Suy nghĩ của họ trở nên gần với dân bản địa hơn, ngôn ngữ bản địa được sử dụng như là ngôn ngữ mẹ đẻ chứ không phải là tiếng Việt. Theo tớ, đây chính là lý do Thúy Nga FBN nói riêng và showbiz hải ngoại nói chung mất dần khán giả mà không có cách nào cứu gỡ. Lôi kéo ca sỹ Việt Nam sang hay bắt chước các show của nước ngoài như Celebrity Dancing cũng chỉ như là sự vớt vát mà thôi. Các ca sỹ Hải ngoại dần dần xin về nước, một công đôi việc vừa về thăm VN vừa tranh thủ chạy show hốt bạc. Thị trường VN mới thực sự là đất để các ca sỹ hải ngoại hốt bạc bởi khán giả trong nước đã được PR từ rất lâu thông qua hệ thống đĩa DVD lậu các chương trình của Thúy Nga. Thúy Nga PBN sống bằng gì? Họ sống bằng tiền bán vé, tiền bán DVD, CD và một phần hệ thống quảng cáo trên các sản phẩm của mình. Nhưng giờ đây họ sẽ phải suy nghĩ lại về điều đó vì thị trường ngày càng hẹp, lại bị cạnh tranh bởi các sản phẩm ở trong nước đưa sang. Trong khi đó, các sản phẩm của Thúy Nga không thể bán ở VN một cách chính thống mà chủ yếu là thông qua hệ thống làm lậu băng đĩa ở Huỳnh Thúc Kháng. Mà với hệ thống băng đĩa lậu này, chắc chắn rằng Thúy Nga PBN chẳng thể thu được lấy một đồng bạc cắc. Không có lời giải cho những bài toán trên thì việc phá sản Trung tâm Thúy Nga sẽ chỉ là vấn đề sớm hay muộn mà thôi.
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, kể cả khi những Trung tâm Băng nhạc Hải ngoại như Thúy Nga bị phá sản thì cũng chẳng có gì chắc chắn là showbiz tại Việt Nam sẽ khá hơn, người Việt Nam sẽ được hưởng những chương trình ca nhạc có chất lượng hơn. Câu trả lời cho vấn đề này lại nằm ở một chỗ khác.
Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009
Chuyện vợ hai
Ban đầu khi có ý định mua xe đã bụng bảo dạ là mua Getz. Sau khi sang "sâu" coi thì vợ cả thấy i10 của Huyndai đẹp hơn, rẻ hơn nên lại quay sang ý định i10. Lượn lờ khắp website và "sâu" để so giá. Có con i10 nghe đến là rẻ hơn con ở "sâu" mà mình coi đến 20-30 tr nhưng lúc tới nơi coi thì đếch có trợ lực tay lái. Thời buổi này mà không có trợ lực tay lái thì tay to nhanh lắm. Thôi, em kiếu. Rồi, quyết định đặt tiền mua i10. Bực mình với bọn "sâu", đặt mua xe từ tháng 10, nó hẹn tháng 11 lấy xe nhưng sang đến tháng 11 thì nó bảo xe anh đặt chưa về được và chưa biết bao giờ mới về. Thôi anh lấy xe khác đi. Thì biết làm sao bây giờ, lại quay lại với lựa chọn ban đầu là em Getz. Tất nhiên là phải tranh thủ mắng bọn sâu một trận. Nhờ anh em bạn bè kiếm số đt của mấy anh TGĐ và Phó TGĐ Huyndai Thành Công để kiểm tra cho chắc chắn là không có xe (phòng trường hợp sâu nó bán đứng mình vì biết đâu có thằng khác trả cao hơn chút nó lấy xe của mình đem bán?). Lấy Getz thì rõ rồi, nhưng mà cần phải down giá. Nếu mà tớ mua Getz từ tháng 1o thì tớ đã có xe rồi, giờ mất 01 tháng chờ đợi mà cuối cùng tớ vẫn phải lấy xe với giá như vậy là không ổn. Sâu bớt cho 5 tr, cò kè thêm tí nữa bớt tiếp 3tr. Một bác Huyndai Thành Công gọi vào, thế là bớt thêm được 2 tr nữa, tổng cộng được giảm giá 10 tr so với giá ban đầu. Hôm qua, cầm giấy tờ Hải quan của xe mà bọn sâu nó đưa mới biết, giá bọn nó mua của Huyndai Thành Công là 373 tr, bán cho kháchvới giá 393,5 tr, bán cho mình giá 383 là vẫn còn lời được 10 tr :)
Thiệt hại nhất có lẽ là ông bà nội. Vì thấy kêu gào các cháu đi nắng về mưa cần phải mua xe nên cho tiền mua. Ban đầu thì xin có 200 tr, sau một hồi ngắm nghía thì 200tr chả mua được con nào mới, lại xin lên 300tr. Cuối cùng chốt giá thành 400tr :)
Phải công nhận là bây giờ kính thưa các loại thủ tục hành chính đã rất nhanh chứ không đến nỗi "hành là chính" như báo chí vẫn kêu ca. Nộp lệ phí trước bạ mất khoảng 1h30 phút tại Chi cục thuế Quận. Lên Phòng CSGT nộp hồ sơ, cà số khung số máy cho đến lúc cầm biển số chỉ khoảng 1 tiếng. Chiều chạy qua đăng kiểm Bình Triệu mất khoảng 1 tiếng nữa. Vậy là tạm ổn, có biển số, có đăng kiểm chạy vi vu. Một tuần sau quay lên CSGT lấy cà vẹt xe và quay sang đăng kiểm lấy sổ đăng bộ là hoàn chỉnh.
Nói chung là bây giờ có thể vi vu trên phố rồi nhưng để chở con đi học thì phải chờ vợ sát hạch nữa. Nhưng ngán nhất là cái khoản nuôi vợ hai. Đơn giản là chắc chắn mỗi tháng sẽ phải chi thêm 1 tr nữa cho tiền đổ xăng và gửi xe ở chung cư. Chưa biết phải kiểm ở đâu ra đây nữa...hu hu
Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009
Câu chuyện phiên âm trên báo chí
LOẠN PHIÊN ÂM
Trong bối cảnh không có chuẩn nào về phiên âm, may lắm thì có vài cơ quan báo chí ra quy định riêng (tuy không phải lúc nào cũng được các biên tập viên nghiêm chỉnh thực thi). Hình như các cơ quan “chính thống” như TTXVN, báo Nhân Dân hay Quân đội Nhân dân thì “chơi” kiểu phiên âm có gạch nối, các báo khác thì cứ nguyên chữ Tây mà... phệt.
Nguyên tắc chung là thế, nhưng ngay như trong đại bản doanh của TTXVN chúng tớ cũng mỗi ban mỗi kiểu. Chẳng hạn tin dịch của Ban Tin Kinh tế thì cứ để nguyên tên riêng, còn tin dịch “phổ biến” của Ban Thế giới thì khá quán triệt vấn đề phiên âm, tuy nhiều khi nghe hơi tức cười vì... ứ thống nhất tí nào, thậm chí nhiều khi còn sai. Lin-zi với Lin-xi (Linsey), Tếch-dát với Tếch-dớt (Texas), Ca-li-pho-ni-a với Ca-li-phoóc-ni-a (California) là những cái lỗi quá vặt, nhỏ như con thỏ. Ngay cả khi phiên âm tương đối đúng thì nhiều chữ nhìn thật ngô nghê: Đê-la-oe, Gơ-ri-phít, Tờ-ri-pô-li, Chư-cư-ba, Kếp Thao chẳng hạn. Hic, hic...
Không ít người kêu gọi giữ tiếng Việt trong sáng và phất cờ kêu gọi thực thi triệt để trong cả “khoản” phiên âm. Nghe thì cũng hợp lý bởi xét tình hình dân trí chung, nếu cứ để Vajpayee, Chicago, Chrysler... thì quá bằng đánh đố bà con. Nhìn loáng thoáng thì không sao, bảo đọc lên thì ối người tắc tị. Ngay cả chúng ta, tự dưng có người hỏi “Chicagô” hay “Sicagô,” “Đilân” hay “Đailân” mới đúng thì chắc cũng mất kha khá thời gian suy tưởng. Nhưng nói cho mà biết là sẽ có nhiều rắc rối kèm theo: Ví dụ điển hình là lâu nay chúng ta quen gọi “nước Mêhicô” nhưng cái thành phố quỷ quái lại là “Mexico City”, chẳng lẽ bây giờ phiên âm ra là “Mêhicô Xiti.” Không được! Và thế nào cũng có người hỏi: “Cùng một chữ Mexico, tại sao lúc thì phiên là x, lúc thành h.” Tịt ngòi luôn? Chưa kể là cùng 1 chữ nhưng Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc phiêm âm khác nhau – nghe người Nhật nói thế (chữ “Lee”), chưa được ai xác nhận lại điều này – thì càng hóc búa hơn.
Mà không phải là TTXVN chúng tớ không có người thích để nguyên chữ Tây, mỗi tội là người thì thích dùng tiếng Anh, kẻ lại ưa tiếng Pháp. Vậy mới chết dở! Tưởng Eltsine là ai, hóa ra ông béo Yeltsin, Cisjordan thì thật ra ta vẫn gọi là Bờ Tây sông Jordan. Nhiều vị vẫn nhất quyết viết là Iraq hay Israel tuy anh em đều viết là Irắc và Ixraen.
Phiên âm như TTXVN lâu nay có ổn không? Có một chức năng của tin TTXVN là cung cấp cho đài truyền hình và phát thanh, và thực tế rõ ràng là nếu không phiên âm thì nhiều đồng nghiệp xướng ngôn viên không biết đọc thế nào. Nhưng nếu chỉ để phục vụ tầng lớp “ngại nhìn chữ Tây” thì trong thời buổi hội nhập quốc tế hiện nay, tin của chúng ta sẽ đầy những Gơ-rin-xpan, Gô-ran-xơn, Van Nít-xtơ-roi, Che-ni trông thật lủng củng. Và nhiều chữ phiên âm xong trông... lạ hơn để nguyên.
Thêm vào đó, tiếng Việt hiện đại không dùng dấu gạch nối trong một chữ. Bây giờ chẳng ai viết Hà-nội hay Hải-phòng như hồi đầu thế kỷ trước. Từ phiên âm tiếng nước ngoài nói chung cũng thế, trừ tin phổ biến của TTXVN phát ra và tin trên báo Nhân dân. Đến 85-90% những chữ để gạch nối như vậy chỉ tổ làm cho dài dòng. Bỏ quách đi là hay nhất. Nhưng cũng phải nói luôn là trong cái hay cũng có cái dở: những chữ phiên âm có nhiều nguyên âm cạnh nhau mà không có gạch nối thì thế nào cũng bị đọc nhầm. Đêlaoe mà lại đọc thành “đê-lao-e”, Xuraoan thành “xu-rao-an” thì hỏng, Boócneo mà lại thành “boóc-neo” thì... teo.
Vậy để nguyên chữ Tây có phải là phương án khả thi? Xem ra số đông các báo đang theo cách này - khỏi cần suy nghĩ, cứ nguyên chữ của Tây mà “choảng”. Nhưng thực ra không đơn giản chút nào vì khó có thể thống nhất lấy tiếng Anh hay tiếng Pháp làm chuẩn. Kể ra vài chữ cho chư vị tranh cãi nhé: nên viết là Palestin hay Palestine, Thủ tướng Qorei hay Qureira, Tổng thống Kaddafi, Khadafi, hay Qadhafi? Ngay như tên riêng đã quá quen lâu nay như Mátxcơva cũng bắt đầu bị bỏ để viết bằng Moscow, nhưng có người lại thích viết thành Moscou thì... giết người ta à?
Thôi thì đề ra quy định nước nói tiếng Anh thì viết chữ tiếng Anh, nước nói tiếng Pháp thì theo chữ tiếng Pháp vậy, nhưng những nước dùng ngôn ngữ khác, nhất là những thứ tiếng như giun như dế thì “làm thế nào đây hả Giời.” Chẳng nói đâu xa, chữ Tây để viết tên các bác cao cấp bên Lào thì ít ra đã quen, nhưng mấy cái xã, huyện nhỏ hay hợp tác với Việt Nam và phải đưa tin thì viết thế nào, nếu không tự tin thì kiểm chứng với ai? Quá mệt!
Nếu tên riêng nào cũng như là chữ “Iran” thì tốt quá, khỏi phải cãi nhau, mỗi một kiểu viết. Nhưng đã không được như thế thì phải tìm ra một con đường chung khả dĩ. Xét cho cùng, mỗi tờ báo không có cách nào khác là phải làm một cuốn Style Guide để ít nhất thì cũng thống nhất trong phạm vi tờ báo của mình: như thế nào thì phiên âm, phiên âm như thế nào. Đương nhiên, việc lập ra các tiêu chuẩn nội bộ cũng không thể phớt lờ những gì đang phổ biến bên ngoài. Nhiệm vụ bất khả thi – song vẫn phải làm./.
(Nguồn: VJ)
Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009
Báo Tuổi Trẻ đưa tin sai
Nông trường Sông Hậu được hai lần tặng danh hiệu Anh hùng lao động vào năm 1993 và 1998. Ông Trần Ngọc Hoằng được tặng danh hiệu Anh hùng lao động vào năm 1995 và bà Trần Ngọc Sương được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu này vào năm 2000.
(Nguồn: Báo Tuổi Trẻ Tp.HCM)
Chưa hoàn toàn tin vào kết quả trên, tớ tìm đến website của Nông trường Sông Hậu thì lại có một cột mốc khác:
Chưa có đơn vị nào trong 15 năm lại được vinh dự được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lao động đến 4 lần như Nông trường sông Hậu, tỉnh Cần Thơ. Lần thứ nhất, sau 6 năm thành lập, Nông trường đã trở thành điểm sáng tiêu biểu của hệ thống nông trường quốc doanh, được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động . Lần thứ hai, ngày 14-01-1993, nguyên Giám đốc Nông trường Trần Ngọc Hoằng được tuyên dương Anh hùng Lao động. Lần thứ ba vào năm 1999, Nông trường sông Hậu tiếp tục được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động lần thứ hai. Mới đây, ngày 13-9-2000, chị Trần Ngọc Sương, giám đốc Nông trường sông Hậu lại được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
(Nguồn: Website của Nông trường Sông Hậu)
Nông trường Sông Hậu được chính thức thành lập vào tháng 4/1979, như vậy lần đầu tiên được tặng thưởng Anh Hùng Lao Động của Nông trường phải là năm 1985. Không hiểu báo Tuổi Trẻ lấy đâu ra những cột mốc lạ lùng ở trên nhỉ ?