Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Sự thay đổi trên thị trường tiêu dùng Việt Nam

-->  


Saby Mishra, CEO Công ty quảng cáo quốc tế J.Walter Thompson Việt Nam
 
-->
Chỉ trong chưa đầy 20 năm, Việt Nam từ một thị trường tiêu dùng với rất ít thương hiệu đã trở thành nơi tràn ngập những sản phẩm mang thương hiệu quốc tế, giúp đẩy tổng giá trị bán lẻ của thị trường này lên 138 tỷ USD năm ngoái, theo số liệu của chính phủ. Đối với những thương hiệu khổng lồ trên toàn cầu như Unilever Unilever, PepsiCo PEP, P&G và Heineken, Việt Nam nay trở thành nền tảng xây dựng chính trong các chiến lược ở ASEAN của họ.
Tuy nhiên, trong vòng 4-5 năm qua, nền kinh tế được mệnh danh là con hổ này đã có nhiều thay đổi cả trong giới buôn bán và người tiêu dùng. Vì vậy, người ta đã rút ra được những bài học gì từ đó?
Kỷ nguyên đặc quyền đã qua ở Việt Nam
Thị trường Việt Nam 20 năm đầu có mức tăng Hàng tiêu dùng tăng nhanh (FMCG) rất nóng thông qua sự phân phối độc quyền. Việt Nam với dân số đông, có trình độ, cùng sự ổn định chính trị sau 100 năm chiến tranh, và sự ảnh hưởng ngày càng tăng nhờ những chương trình cải cách mang tính xã hội chủ nghĩa đã khiến người ta nghĩ rằng miễn là hàng hóa được bày trên kệ, khắc sẽ bán được.
Từ đầu năm ngoái, người tiêu dùng Việt Nam đã bắt đầu có dấu hiệu thận trọng đáng kể trong chi tiêu và kết quả là mức tăng doanh số bán hàng của hầu hết sản phẩm đều chậm lại. Trong bối cảnh này, các sản phẩm tên tuổi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải đào sâu hơn và thúc đẩy tăng trưởng thông qua quyền sở hữu tiêu dùng thực nhờ việc tìm hiểu kỹ và phát triển thị trường, kỹ năng mới.
Thành thị bị bão hòa, 70% thị trường là nông thôn
Đa số các công ty tiếp thị chính đều theo đuổi những khu vực thành thị giống nhau trong top 6 thành phố và 30 thành phố loại 2. Những thành phố này hiện nay đã tương đối bão hòa.
Tuy nhiên, theo Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen Vietnam, 68% dân số Việt Nam – tương đương 61 triệu người- lại ở nông thôn. Không giống như ở Indonesia, Ấn Độ và thậm chí ở Trung Quốc, dân số ở nông thôn Việt Nam đa số có học thức, hòa nhập hơn và có xu hướng mua bán tương đối cao, chủ yếu nhờ những cải cách về đất đai và xuất khẩu nông sản.
Nhưng thị trường nông thôn đòi hỏi phải “biết người biết ta”, cần tuyên truyền cơ bản hơn và những chương trình dài hạn hơn. Một số nhà tiên phong, như Suntory PepsiCo và Unilever, đang tìm cách xâm nhập bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng, tìm hiểu những năng lực mới và sự thông minh của người tiêu dùng.
Không phải một mà là bốn Việt Nam
Việt Nam được biết đến như “Đất nước của Một” duy nhất ở Đông Nam Á – một cộng đồng, một ngôn ngữ, một chữ viết, một đảng chính trị, một đường cao tốc, một đường bờ biển. Nhưng trong vài năm qua, người ta có thể chia ra ít nhất 3 hay 4 nhóm khác nhau, đặc biệt về thói quen của người tiêu dùng.
Chẳng hạn, ở khu vực miền Nam náo nhiệt, các quán cà phê Starbuck mở cửa đến tận 1 giờ sáng để phục vụ những “con cú ăn đêm”. Trong khi đó, cũng các quán cà phê này ở Hà Nội, nơi giao thông đông đúc nhất là sau giờ ăn trưa, lại đóng cửa lúc 10 giờ tối. Ở miền Nam, kem trộn Frappucino bán chạy nhất, trong khi Hà Nội mát mẻ hơn thường là một thứ gì đó nóng để nhâm nhi.
Mức độ khác nhau giữa 4 khu vực chính (Vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh và vùng châu thổ sông Mê Kông) không phải ở bề ngoài. Người Sài Gòn thiên về xu hướng thực tế hơn, ngược lại người Hà Nội có vẻ chuộng hình ảnh hơn (chính vì vậy mà các cửa hàng LV ở Hà Nội bán chạy hơn ở trong Thành phố Hồ Chí Minh). Và điều này đặt ra một thách thức đáng kể khi chọn các đại sứ cho nhãn hiệu.
Trẻ nhưng không chủ nghĩa cá nhân
Thời gian bữa tối sum vầy của gia đình vẫn được coi trọng trong giới trẻ và lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ vẫn được duy trì. Thực sự là như vậy.
Một trong những chiến dịch quảng cáo thành công nhất của chúng tôi ở Việt Nam – cho một công ty đồ uống nhẹ- thể hiện cảnh một người ông giữa đám cháu tuổi teen trong dịp đón Năm mới. Một chương trình quảng cáo khác gần đây cho một nhãn hiệu về dinh dưỡng cho người lớn bị thất bại do không tập trung vào những khách hàng chính của công ty, đó là những người trên 50 tuổi, nhưng con cháu họ vẫn nhắc về sự hy sinh của bố mẹ.
Thậm chí đối với những nhãn hiệu được gọi là “sắc”, thì điều quan trọng trong quảng cáo vẫn là phải thể hiện được các thành viên gia đình, nếu có thể. Quảng cáo mà chỉ mô tả cảnh đơn lẻ, những kiểu cá nhân chủ nghĩa, bất kể hay đến thế nào, thì cũng đều thất bại.
Người sử dụng Internet ngày càng tăng, nhưng truyền hình vẫn thống trị
Theo We are Social, một cơ quan truyền thông xã hội có trụ sở tại London (Anh), Việt Nam có 36 triệu người sử dụng mạng Internet, tỷ lệ cao thứ 5 ở Đông Nam Á.
Tuy nhiên, nếu bạn muốn đạt được mục đích cao nhất, bạn phải nhìn xa hơn để thấy rằng nơi đây truyền hình vẫn là “vua”, nhờ các chương trình phổ biến từ Hong Kong, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan.
Đối với phần lớn người Việt Nam, mua hàng qua mạng vẫn chủ yếu chỉ là để so sánh giá cả, xem thông tin sản phẩm, trước khi ra các cửa hàng trên phố để mua. Thương mại điện tử vẫn rất khó khăn do sự tràn vào của các sản phẩm chất lượng thấp, giao hàng trễ và những chính sách hoàn tiền hay đổi hàng không thân thiện.
Thương hiệu Nhật Bản chiếm ưu thế
Mối quan hệ thương mại gần gũi giữa Nhật Bản và Việt Nam có từ thế kỷ XVI. Các thương hiệu sản phẩm của Nhật Bản không chỉ được ưa chuộng về dụng cụ và hàng điện tử, mà thậm chí cả các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày cơ bản như thực phẩm đóng gói, nước giải khát và chăm sóc da. Sản phẩm của các công ty Nhật Bản được người tiêu dùng xem là an toàn, khác biệt, chất lượng cao và sẵn sàng trả giá cao hơn cả những thương hiệu phương Tây. Ví dụ, một trong những thương hiệu đồ uống liền phát triển nhanh nhất ở Việt Nam là một loại trà đóng chai do một tập đoàn lớn của Nhật Bản đưa ra cách đây vài năm.
Tóm lại, điều quan trọng nên nhớ rằng những nước như Việt Nam, cũng giống như Myanmar và Indonesia, vẫn là những thị trường tiêu dùng ở giai đoạn đầu và do vậy, công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp hóa là khá khó khăn. Trong 20 năm qua, bán hàng ở Việt Nam người ta chỉ cần lo cung cấp cho đủ hàng, nhưng điều đó sẽ không còn nữa.

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

Tản mạn chuyện "Quan Làm Báo"



Trong khoảng cuối tháng 8 vừa qua cộng đồng mạng đã chứng kiến tình trạng nhốn nháo thi nhau vào đọc blog "Quan Làm Báo" để nắm bắt thông tin và rồi…thi nhau thất vọng. Nhưng cho đến tận giờ này cũng còn rất nhiều người hi vọng…

Trang blog Quan Làm Báo ra đời vào ngày 07/6/2012 và chỉ trong vòng hơn 2 tháng, blog Quan Làm Báo đã thu hút hơn 9 triệu lượt truy cập. Nói đến QLB thì người hay vào đọc trang này sẽ lập tức nghĩ ngay đến loạt 04 bài thông tin liên quan đến tình hình tài chính, ngân hàng; liên quan đến các vụ mua bán, sát nhập các ngân hàng và nóng hổi nhất là các thông tin liên quan đến nhân sự cao cấp của chính phủ và Bộ chính trị. Và giai đoạn cao trào nhất của QLB chính là thời điểm bắt, tạm giữ Nguyễn Đức Kiên, Lý Xuân Hải. Câu hỏi đặt ra là tại sao một blog mới như QLB lại có thể thu hút người đọc một cách nhanh chóng như vậy?

Có thể nói trong 04 loạt bài đầu tiên về tình hình kinh tế, tài chính QLB đã "đánh trúng" và giải tỏa được tâm lý tò mò của một "bộ phận không nhỏ" trên  cộng đồng mạng khi lý giải những vấn đề sát nhập ngân hàng, thâu tóm doanh nghiệp bằng những thông tin "tổng hợp từ báo chí" mà chỉ những người ở trong ngành tài chính-ngân hàng mới hiểu (mà không nói/hoặc chưa nói). Thực ra vụ việc M&A của Phương Nam Bank với Sacombank đã được truyền miệng trong giới tài chính ngân hàng từ lâu nhưng không có ai có đủ thông tin và tài liệu để khẳng định chính xác bản chất vụ việc. Lờ mờ nhận ra cách làm, cách thâu tóm thì có như để "chắc như đinh đóng cột" thì chẳng một ai dám khẳng định. Nhận định chung của giới nghiên cứu kinh tế về những thông tin trên QLB là chính xác đến 60-70%, còn lại là "chém gió".
Sau "cơn bão" thông tin về tài chính - ngân hàng đi qua, QLB trở lại với thông tin xào xáo trên mạng. Nhưng vẫn còn đó những hi vọng thông tin tiếp nối thông tin nên lượng bạn đọc truy cập QLB dù có giảm nhưng vẫn còn khá nhiều. Chiều ngày 19/8, giới phóng viên mảng nội chính ở Hà Nội bắt đầu xôn xao vì thông tin bắt bầu Kiên. Không một ai (cá nhân/pháp nhân) xác nhận chính thức thông tin này. Tin đồn vì thế cứ tiếp tục lan rộng. QLB nhanh chóng đưa tin, kèm theo vài thông tin về các vụ thương vụ mua bán, sát nhập ngân hàng trước đây đã từng thông tin tiếp tục được xào lăn (lại). Có vẻ như sự trùng hợp giữa những thông tin mà QLB đã từng đăng tải về các thương vụ "áp phe" thâu tóm và sát nhập ngân hàng với việc CQĐT bắt bầu Kiên khiến cho bạn đọc (ảo) ngạc nhiên pha lẫn kinh ngạc và "thán phục" (?). Báo chí trong nước "ngơ ngác" nhìn bạn đọc (ảo) chạy về đọc tin trên QLB mà trong lòng như lửa đốt, máu cạnh tranh nghề nghiệp nổi lên cao ngất, tưởng như có thể đốt cháy dãy Trường Sơn. Sáng ngày 21/8, báo Tuổi Trẻ Online mới có sự xác nhận chính thức từ Phó Tổng Cục trưởng TCCS để đăng tin và từ đó, các báo khác lấy lại để thông tin (và tất nhiên - không quên thêm mắm muối).

Ngày 22/8, lần đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam, báo Thanh Niên đăng tin "Thông tin bịa đặt" trên báo điện tử để khẳng định: "…một số trang mạng cho rằng một số tờ báo trong đó có cả Thanh Niên, đã đăng tải các bài viết “nhằm tô son, trát phấn” cho các ông Trầm Bê và bầu Kiên…là hoàn toàn bịa đặt". Một số trang mạng ở đây có "phần nhiều" là từ QLB!

Chưa dừng lại ở đó, tiếp tục xuất hiện tin đồn bắt tạm giam Lý Xuân Hải - Tổng giám đốc ACB. Làng báo lại "sôi sục", các nhà mạng liên tục nghẽn mạch vì điện thoại để "check thông tin" của giới PV. Chiều tối ngày 23/8, các phóng viên nội chính tập trung rất đông trước cửa nhà ông Lý Xuân Hải. Dù thấy rất rõ lực lượng Công an đi vào nhà nhưng cũng không báo nào dám chắc chắn để thông tin với bạn đọc rằng đã "bắt tạm giam" hay đã "khám xét". Phóng viên nội chính lại xôn xao, các báo điện tử trong nước thi nhau đăng lên rồi rút xuống chỉ trong vòng có chưa đầy 06 tiếng. Vẫn không có (cá nhân/pháp nhân) xác nhận thông tin. QLB thong thả nhả từng tin: Đã bắt Lý Xuân Hải, hiện nay đang giam lỏng Trầm Bê, Hồ Hùng Anh và Nguyễn Đăng Quang đã xin tự thú…. Sáng hôm sau, gần như tất cả các báo đều đăng tin theo TTXVN về việc bắt tạm giam " Lý Xuân Hải - nguyên TGĐ ACB ".

Tại sao QLB có thể làm được điều ấy? Đơn giản vì QLB chẳng bị ràng buộc bởi nguyên tắc nghề nghiệp hay đạo đức làm báo nào cả. Có chăng thì cũng chỉ là thông tin giống như chương trình "dự báo thời tiết" trên VTV ngày nào cũng phát.

Và đến giờ này thì "bão đã tan", QLB lại trở về với "cái máng lợn". "Phong độ là nhất thời, đẳng cấp mới là mãi mãi" - việc gì phải xoắn nhỉ?

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2011

tiếp tục...NUDE VÌ MÔI TRƯỜNG VÀ KHOẢNG CÁCH TRONG TRUYỀN THÔNG

Note của Khải Đơn trên Facebook.




Tuần trước tôi đã nói về khái niệm Media Feeding Frenzy, với câu chuyện của những người nổi tiếng, trong đó có chuyện người mẫu Ngọc Quyên nude vì môi trường.
Vì độ “hot” của đề tài này, tôi lại tiếp tục nhớ về cô. Có 4 bài báo sau: “Ngọc Quyên nude 100% để...bảo vệ môi trường”(Vietnamnet); “Siêu mẫu tuyên bố sẽ “chịu và chấp nhận” tất cả những lời chê, chửi bộ ảnh nude của mình” (afamily.vn), “Ngọc quyên nude: bảo vệ môi trường hay gây sự chú ý?”(giadinh.net), “Tác giả bộ ảnh Ngọc Quyên nude toàn thân nói gì?” (Vietnam+) Tôi chọn 4 bài viết này vì nó đi theo tiến trình thời gian của diễn biến vấn đề, theo sự quan tâm của độc giả và sự đeo bám của truyền thông.
 
Bài viết thứ nhất của Vietnamnet mô tả câu chuyện, phỏng vấn một vài quan điểm của Ngọc Quyên khi cô quyết định tung bộ ảnh này ra công chúng. Đây là bài viết cung cấp thông tin bình thường, tất nhiên là “hot” hơn nhờ vào bộ ảnh chen lẫn các lời giới thiệu đơn giản.
 
Trong một bài luận tên “Proper Distance: Towards an ethics for cyberspace” của tác giả Roger Silverstone, ông có đề cập đến câu chuyện tương tác của người đọc và đối tượng được mô tả trong sự kiện truyền thông. Đối tượng được mô tả trong sự kiện truyền thông ở đây là Ngọc Quyên. Sau bài viết mô tả trên Vietnamnet, như cách thức một bài thông tin thông thường trên mạng, khán giả sẽ đòi hỏi nhiều hơn từ câu chuyện này, vì tò mò, vì muốn hiểu thêm, và cả vì phán xét cô người mẫu này với hành vi ấy. Sự đòi hỏi này được học giả Silverstone gọi tên là khoảng cách. Roger viết trong tiểu luận của mình như sau: “Khoảng cách thích hợp là khái niệm mang tính phê bình hàm chỉ và liên quan đến việc tìm kiếm đầy đủ thông tin và thấu hiểu về người khác hoặc văn hóa khác để có trách nhiệm và quan tâm hơn đến nó, cũng như để có thể kích hoạt các hành động, từ việc có đầy đủ thông tin, và ngược lại sẽ gây tác động đến sự kiện đó. Chúng ta phải ở gần, gần gũi nhưng ko quá gần, phải đứng xa, nhưng ko được quá xa.”
 
Trong nhu cầu tìm kiếm thêm thông tin này, bài viết tiếp theo, phỏng vấn người mẫu Ngọc Quyên, sau khi phản ứng dữ dội của khán giả được tung lên khắp các diễn đàn trên mạng. Ngọc Quyên đã có các trả lời liên quan đến thuần phong mỹ tục, quan điểm, ý tưởng của cô, đáp lại các bình luận của người xem và báo giới. Bài viết thứ hai này cũng đã cho thấy gương mặt rất rõ nét của khán giả truyền thông qua internet. Internet đã làm báo chí và truyền thông cắt bỏ đi một khoảng cách vật lí rất rõ nét giữa thông tin và người đọc. Thông tin đi rất nhanh, trọn vẹn, với hình ảnh, âm thanh và các bài viết được cập nhật liên tục. Khác với tivi, radio và báo in trước kia, các phản hồi của khán giả, phản hồi của đối tượng trong tác phẩm báo chí nhanh chóng đến được với nhau một cách rõ nét. Khán giả post lại hình Ngọc Quyên ở nhiều diễn đàn khác nhau. Cô phản ứng trả lời. Bình luận tiếp tục xuất hiện. Tất cả là ưu thế của internet.
 
Nhưng cũng vì ưu thế này, cộng với tính chất vô danh trong biển thông tin, khoảng cách ko hợp lí – như Roger Silverstone đã định nghĩa – đã phá vỡ các chuẩn mực đạo đức của con người. Phạm trù đạo đức trong truyền thông trở nên gay gắt khi internet xuất hiện. Báo chí có thể “ném” vào độc giả những hình ảnh “thiếu thuần phong mỹ tục” (như 1 số người mô tả) vào độc giả. Đổi lại, độc giả cũng ném lại vào giới báo chí và cô người mẫu những lời lẽ tục tĩu, xúc phạm trong các comment trên trang báo và mạng xã hội. Các giới hạn của trách nhiệm phát ngôn đã được mở rộng và phát triển một cách mất kiểm soát.
 
Roger Silverstone mô tả quan hệ của khán giả với nhân vật của truyền thông giống như quan hệ của mỗi cá nhân với các hàng xóm và những người lạ xuất hiện trong đời họ. Nếu như trong quan hệ thông thường, mỗi con người thường căn cứ quá nhiều vào sự xuất hiện vật lí của người đó để đánh giá họ (sự có mặt, sự quen thuộc, sự lạ lẫm..)  thì trong không gian truyền thông ảo, ngưuời ta lại đánh giá quá lố một người hoàn toàn xa lạ dựa trên sự xuất hiện hoàn toàn ảo của người đó trên các phương tiện truyền thông mạng, do thiếu đi sự xuất hiện vật lí của nhân vật và sự kiện đó.
Sự quá lố hoặc quá khích này lại không được phán xét bởi các giá trị đạo đức thông thường vì không có phản hồi, truy vấn nào quá dữ dội của chính nhân vật trong câu chuyện truyền thông ấy. Sự vô danh đã làm nhẹ đi các bậc thang trách nhiệm. Và theo đó, khi các nấc thang trách nhiệm bị hạ xuống, các khoảng cách ko đủ thích hợp, thì mức độ đạo đức của các phản ứng và quan hệ khán giả - nhân vật truyền thông cũng bị thay đổi nghiêm trọng.
 
Đến 2 bài viết sau, “Ngọc Quyên nude: bảo vệ môi trường hay gây sự chú ý?”; “Tác giả bộ ảnh Ngọc Quyên nude toàn thân nói gì?”, các phán xét về nghệ thuật hay ko nghệ thuật, gây sốc hay bảo vệ môi trường... từ phía độc giả đã được giới truyền thông “tương tác” lại nhân vật của họ, bằng những phán xét, câu hỏi, cụm từ như “chả liên quan gì đến môi trường”, “khiêu dâm”, “thất bại”, cũng như tìm cách làm thỏa mãn sự tò mò của khán giả bằng việc đào sâu thêm các bộc bạch của cả nhiếp ảnh gia và Ngọc Quyên. Khoảng cách ở đây đã được nối lại gần hơn, giữa khán giả và nhân vật. Và với khoảng cách gần hơn ấy, người đọc sẽ có những suy nghĩ khác, nhận định khác, cảm thông hơn hoặc gay gắt hơn, với câu chuyện cô người mẫu làm và quan điểm của cô.
 
Trong câu chuyện “nude vì môi trường”, khoảng cách thích hợp là mấu chốt căn bản để vấn đề truyền thông được nhìn nhận và đưa khán giả đến những hành xử hợp lí hơn về đạo đức con người.
 
Công nghệ đã góp phần rất cốt lõi vào việc đẩy nhanh sự gần gũi về thông tin lẫn con người lại với nhau. Tuy nhiên, cũng trong nấc thang leo rất nhanh của sự gần gũi ấy, trách nhiệm cá nhân của con người với đạo đức và hành xử đã liên tục bị từ chối và trở nên phức tạp bởi quá trình hiện đại hóa các phương tiện kĩ thuật. Khái niệm về “khoảng cách thích hợp” của Silverstone giúp giới truyền thông và tự thân khán giả dần định hình ra một mức độ thích hợp trong tiếp cận và phản ứng với thông tin, một cách có đạo đức và chừng mực.
 
Người ta có thể thoát khỏi trách nhiệm của mình bằng cách lạm dụng, phỉ báng thông tin và rồi tắt máy, thoát ra ngoài thế giới ảo. Nhưng sâu xa hơn, người ta ko thể thoát ra khỏi con người đạo đức chỉ bằng cách đơn giản là tắt máy tính đi. Sẽ có những chất vấn, những hố sâu, những tổn thương, những hiểu nhầm, kích động và cả các khoảng cách bất hợp lí. Silverstone viết: “Trách nhiệm bị chìm vào câm lặng khi sự gần gũi bị xói mòn, nó có thể cuối cùng được thay thế bằng sự oán giận khi đối tượng con người bị thay thế bằng một thứ hoàn toàn khác.”
 
Khải Đơn