Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

CÙNG CỞI...VÌ MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ CẮN XÉ TRUYỀN THÔNG

(Bài viết dưới đây của tác giả Khải Đơn, được đăng trên FB cá nhân)

Cởi hết và...ăn thịt hết

Có một cô người mẫu tên Ngọc Quyên. Cô đi chụp ảnh nude trên rừng xanh núi thẳm. Sau khi bắn đi tứ tung lên mạng. Cô tuyên bố rằng chụp ảnh là để kêu gọi bảo vệ môi trường. Trên đời này, phàm chuyện gì có dính đến yếu tố “nude”, “cởi”...thì bàn dân thiên hạ rất quan tâm. Ngọc Quyên bảo cô không cần đánh bóng thêm tên tuổi vì cô đã nổi tiếng rồi. Nhiếp ảnh gia Tô Thanh Nghiệp(người chụp) bảo đây là thể nghiệm của anh. Cư dân mạng và tất tần tật những ai mê mải thông tin đều chúi mũi lên mạng kiếm xem “nude vì môi trường là thế nào?”

Câu chuyện có lẽ chỉ dừng tại đó nếu mọi người chỉ chúi mũi đi xem, xem chán thì có thêm ý thức bảo vệ môi trường hay...đi kiếm ảnh nude khác xem. Nhưng ở đây, giới truyền thông không để câu chuyện phai nhạt màu nhanh chóng thế. Ngay lập tức, tất cả các trang truyền thông nào có chỗ và có giấy đều nhanh chóng nhảy vào đào sâu, tìm kiếm, giải mã, hốt hoảng với thông tin trên. Vietnamnet giật tít: “Ngọc Quyên nude 100% để...bảo vệ môi trường”; giadinh.net giật tít : “"Ngọc Quyên nude": Bảo vệ môi trường hay gây sự chú ý?”. Cam go hơn, ngoisao.net đưa tít dữ dội: “Sốc với bộ ảnh nude vì môi trường của Ngọc Quyên”. Thâm trầm hơn, afamily.vn (chuyên trang phụ nữ trẻ và gia đình) viết: “Siêu mẫu tuyên bố sẽ 'chịu và chấp nhận tất cả' những lời chê, chửi bộ ảnh nude toàn thân của mình.”, hoặc: “Ngọc Quyên phản hồi vụ ảnh nude vì môi trường”... Trong những ngày chung quanh độ “hot” của bộ ảnh còn có thêm độ đứng ngồi không yên của giới truyền thông trước sự bức xúc, bức bối, và cả...bức bài. Ngay sau Ngọc Quyên, một họa sĩ ngay lập tức tự họa chân dung nude của mình để...hưởng ứng vì môi trường. Báo chí lại tiếp tục ồ ạt đuổi theo câu chuyện nude hay ko nude, nude vì cái gì, nude vì môi trường thì cao quý hơn hay nude vì phim sex thì hay hơn. Mọi chủ đề và khía cạnh, góc cạnh, hệ quả đều được tập trung khai thác một cách triệt để và liên tục. Độc giả bị cuốn vào một câu chuyện vừa sexy vừa hấp dẫn, không thể không click liên tục.

Câu chuyện kể trên có thể được coi như một hình thức của khái niệm “media feeding frenzy”. Tôi cũng không biết phải dịch cái này ra thế nào nên...để y nguyên vậy. media feeding frenzy, được tác giả Larry J.Sabato (nhà khoa học và phân tích chính trị) lần đầu tiên định nghĩa trong tác phẩm “Feeding Frenzy: Attack Journalism and American Politics” như sau: “Media feeding frenzy xảy ra khi báo chí tập trung vào tường thuật một sự kiện chính trị hay vấn đề gì đó mà một lượng nhà báo khổng lồ cùng đổ xô nhau xoáy vào sự giật gân và rắc rối của vấn đề, đồng thời liên tục đeo bám sự kiện đó một cách dữ dội, thái quá nhiều khi đến mất kiểm soát”.

Hành vi này cũng giống như hình ảnh chỉ giai đoạn săn mồi hung hãn nhất của đàn cá mập (hay cá loại cá ăn thịt). Cắn xé hết. Tơi tả hết. Ăn sạch.

Làm sao để kích động “bầy cá”?

Ngọc Quyên là một ví dụ có thể gọi là mồi để “kích động “bầy cá”. Mồi càng ngon thì cơn hung hăng của “bầy cá” càng lớn, càng dữ dội. Trong truyền thông, những nhân vật có tiếng tăm, có ảnh hưởng lớn, thu hút ánh mắt và sự quan tâm của công chúng nhiều, càng có khả năng kích động các làn sóng truyền thông lên dữ dội. Ngọc Quyên là siêu mẫu, nổi tiếng nên nhiều người quan tâm. Ngô Bảo Châu đoạt giải Fields toán học nên ông rất nổi tiếng trên cả giới toán học thế giới và là niềm tự hào của cả Việt Nam, thế nên cái gì ông viết ra, ý gì mọi người cũng rất quan tâm .Bill Clinton là tổng thống Mỹ, cả nước Mỹ quan tâm, nên scandal tình dục của ông ta cũng được cả nước Mỹ quan tâm... Những nhân vật ấy đều có khả năng trở thành con mồi của cuộc săn đuổi truyền thông và tạo ra làn sóng “media feeding frenzy”.

Điều kiện đủ cho cuộc tổng tấn công của giới truyền thông vào các đối tượng này là khi một sự kiện bất thường hoặc bước ngoặt nào đó xuất hiện trong đời họ. Với Bill Clinton là việc ông lùm xùm với cô gái Monica Lewinsky trong Nhà Trắng. Với Ngọc Quyên là tại cô này nude vì môi trường. Nếu không có những bất thường này xảy ra, hình ảnh của họ có thể bị ồn ào khủng khiếp trên báo chí.

Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ trong lịch sử báo chí, “media feeding frenzy” không được gây ra bởi sự tự thân hấp dẫn của sự kiện mà sự hấp dẫn và cơn hung hăng đó của báo chí...do chính họ tự tạo ra. Câu chuyện nổi tiếng về cô gái trẻ Cheryl Ann Barnes ở Florida bị mất trí nhớ là một ví dụ như thế. Cheryl 18 tuổi, nhà ở Bushnell, Florida, lên xe rời nhà đến trường, rút 100USD từ máy rút tiền ở gần trường và rồi biến mất không một dấu vết. Đó là ngày 03/01/1996. Phát ngôn viên của cảnh sát trưởng tại Sumter Country (Florida) kết luận: “99.9% đây là một vụ bắt cóc.” Kể từ khi đó, giới truyền thông liên tục tường thuật diễn biến của vụ án. Báo chí đăng các bài viết về Cheryl, cha cô, mẹ cô, mẹ kế cô, ông bà cô.... Truyền hình liên tục đưa tin về vụ án, nhưng chủ yếu là những câu chuyện bên ngoài vụ án. Thậm chí, có thời gian, các nhà báo đã “đóng đô” hẳn trong nhà của Cheryl, ăn bánh do bà Cheryl làm, kể những chuyện linh tinh thường ngày của gia đình họ lên truyền hình, báo chí. Ngày 6/2/1996, cảnh sát tìm ra Cheryl tại New York, xác định rõ được thân thế của cô qua giấy tờ và chiếc xe Mazda mà cô dùng lúc ra đi. Cheryl bị mắc chứng quên.

Câu chuyện có lẽ chỉ dừng tại đó với truyền thông thông thường là đưa cô về nhà, đoàn tụ với gia đình. Tuy nhiên, giới truyền thông không bỏ qua đây là một “miếng mồi” quá ngon cho việc khai thác sự chú ý theo dõi của khán giả. Họ không báo tin và đưa Cheryl về với gia đình theo cách thông thường. Chi nhánh đài ABC tại vịnh Tampa, kênh WFTS 28 đã cho Cheryl nói chuyện điện thoại với gia đình, và ngay sau đó thỏa thuận sẽ thuê hẳn một máy bay riêng, lo chi phí ăn ở, khách sạn cho cả gia đình Cheryl để đến trường quay gặp gỡ con gái mình. Tuy nhiên sau đó, kênh 13 WTVT của hãng Fox tại Tampa đã “qua mặt” ABC khi thuê chiếc máy bay Lear Jet, với giá $8,314 cho gia đình cô gái đến trường quay để gặp gỡ cô, đồng thời “bán” lại một vài ghế tường thuật cùng máy bay cho các phóng viên đài khác.

Cuộc gặp gỡ được mô tả rất xúc động. Tuy nhiên, ngay sau đó, trong giới truyền thông dấy lên câu hỏi về việc “dựng sự kiện” hoặc “mua câu chuyện” bằng tiền (tiền thuê máy bay, thuê khách sạn sang trọng (Grand Hyatt), chi phí cho cả gia đình Cheryl đến tạo cảnh gặp gỡ).

Với sức hút đã có từ trước do chuyện mất tích bí ẩn được căng ra bởi các bài báo và tường thuật, “show” gặp gỡ của gia đình Cheryl được công chúng cực kì chú ý đón xem. Các đại gia truyền thông như ABC, Fox, NBC, Times đều nhảy vào tường thuật.

Trong câu chuyện kể trên, nếu không có sự thúc đẩy kịch tính của chuyến đi tìm và đoàn tụ, đượ chi tiền và dàn dựng của giới truyền thông, có lẽ câu chuyện về Cheryl Ann không được quan tâm dữ dội đến thế. Đồng thời, ngay sau câu chuyện đầy lùm xùm của đoàn tụ - hội ngộ nhà Cherry Ann với những hậu trường rất xấu về gia đình Cheryl sau đó, giới truyền thông đã bùng lên một cơn tranh cãi khác về đạo đức truyền thông, khi tờ St.Petersburg Times bắt đầu có những bài viết đầu tiên đặt dấu chấm hỏi về tư cách công tâm của phóng viên khi họ chôn chân trong gia đình ông bà và cha mẹ Cheryl Ann, ăn đồ ăn họ nấu, kết thân với họ...và rồi chẳng phát hiện ra ông bố có tiền sử đã từng tìm cách lạm dụng tình dục con gái Cheryl của ông ta. Dấu hỏi đặt ra là sự can dự của truyền thông trong một làn sóng “media feeding frenzy” nên tới mức nào là vừa đủ?

Nhưng đã là mồi ngon thì chẳng bao giờ vừa đủ cả!

Sexed-up ???

Khoan vội hứng khởi, sexed-up là một cách được sử dụng khá thường xuyên trong báo chí, đặc biệt là với những câu chuyện trong dòng chảy “media feeding frenzy”.

Thông thường, một câu chuyện dù có ghê gớm, giật gân, nhiều thắt nút mở nút cỡ nào thì rồi cũng sẽ đến lúc làm người đọc ngán ngẩm. “Sexed-up” câu chuyện là làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn, quyến rũ hơn, dù vẫn giữ nguyên bản chất của thông tin.

Đây thực sự là một nghệ thuật. Bởi nếu báo chí mà chỉ kể những câu chuyện chung chung và thong thả thì chẳng chóng thì chày, bạn đọc cũng nhanh ngán ngẩm. Làm hay câu chuyện lên là điều cực kì cần thiết để người đọc tiếp nhận câu chuyện. Dù sao, câu chuyện mà ko có người chịu đọc thì cũng chẳng thành thông tin được. Tuy nhiên, vừa làm hay câu chuyện lên mà vẫn vừa giữ được bản chất của sự thật trong thông tin là một trò đi trên dây không hề dễ dàng. Ví dụ có thể dễ thấy nhất là “hồ sơ tháng Chín” về vũ khí hủy diệt của Iraq mà chính quyền Anh đưa ra, để dẫn đến việc kết luận sẽ ủng hộ cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ. Sau này, khi phân tích lại hồ sơ này, báo The Guardian đã đưa ra 10 điểm quan trọng trong đó các kĩ thuật sexed-up đã dẫn đến quyết định tấn công này. Trong báo cáo ban đầu, tên báo cáo được viết là: “Chương trình vũ khí hủy diệt của Iraq”, sau đó đã được sửa thành “Vũ khí hủy diện của Iraq” khi báo cáo – một ngầm ý gây hiểu lầm rằng Iraq ĐÃ CÓ vũ khí này, chứ không phải là chỉ mới đang trong “chương trình”. Trong lời mở đầu, thủ tướng Anh Tony Blair nói rằng có một kết luận gây tranh cãi là Iraq có thể triển khai vũ khí hủy diệt trong vòng 45 phút. Sau khi được sửa chữa, bản báo cáo khẳng định hẳn rằng Saddam Hussen có chuẩn bị để một số vũ khí hủy diệt “sẵn sàng trong vòng 45 phút để đưa ngay vào sử dụng”. Đó là các ví dụ cụ thể về kĩ thuật “sexed-up” thông tin.

Những cách diễn đạt gây ra sự lôi cuốn, hấp dẫn như vậy đều có thể được khai thác triệt để trong khi các phóng viên báo chí khai thác “con mồi” của mình ráo riết trong dòng chảy thời sự và sự khát thông tin của độc giả. Tuy nhiên, cũng trong ví dụ trên, báo The Guardian đã kết luận chính bản báo cáo đưa đến hiểu nhầm về một nguy cơ quá rõ ràng của Saddam với phương Tây, cần tất công ngay.

Tuy nhiên, sexed-up thông tin không chỉ có làm hay, làm lôi cuốn thông tin lên cho thỏa mãn trí tò mò của người xem, mà còn là các cách làm giảm sự nghiêm trọng của vấn đề trên trang báo, nhằm làm giảm sự phẫn nộ hay thu hút đối với khán giả, trong trường hợp thông tin miễn cưỡng buộc phải đưa lên, hoặc phục vụ cho ý đồ chính trị nào đó của các nhóm quyền lợi đang điều khiển báo chí. Chẳng hạn thay vì nói “Từ đầu năm đến nay giá xăng tăng gấp đôi” thì có nơi người ta sẽ giật tít “Giá xăng tăng chậm hơn nhịp độ của xăng dầu thế giới”, là một cách lấp liếm đi cơn khủng hoảng về giá cả, vốn đang rất hiện hữu và gay go.

Media feeding frenzy : Trò đánh bạc một mất - một còn của giới truyền thông

Vai trò quan trọng nhất khi nảy sinh ra cuộc săn đuổi báo chí này là vì phục vụ thông tin cho bạn đọc. Đó cũng là vai trò tối thượng của truyền thông. Song song với vai trò này là nguồn lợi khổng lồ về rating, sự quan tâm, đánh bóng tên tuổi của hãng truyền thông, khai thác quảng cáo... Vì thế, không thể nói trong truyền thông không tồn tại những làn sóng Media feeding frenzy này và cũng ko thể tìm cách loại bỏ nó.

Tuy nhiên, về trách nhiệm truyền thông, đôi khi media feeding frenzy gây ra các sức ép cộng đồng rất dữ dội, mà nếu không chừng mực, sẽ đẩy những nhân vật của sự kiện vào sự cùng quẫn, cô đơn, tự vẫn hoặc chấm dứt sự nghiệp vĩnh viễn. Phản ứng của công chúng truyền thông vốn luôn náo động và hung hãn. Tuy nhiên, nếu phản ứng này lan rộng theo cấp số nhân trên các hệ truyền hình, radio, báo in, internet một cách mất kiểm soát, những người xuất hiện trong bài viết khó có thể quay trở lại cuộc sống bình thường vì những dòm ngó và cả đánh giá của cộng đồng. Chính vì thế, khi lao vào một vòng xoáy media feeding frenzy, sự biết dừng và giới hạn của phóng viên là yếu tố quan trọng duy nhất có thể khiến sự kiện nóng được cân bằng nhiều chiều, cả về mặt xã hội lẫn các vấn đề được phản ánh trên trang báo.

Trong nhiều ví dụ về sự ko chừng mực của media feeding frenzy, hình ảnh những nghệ sĩ Hàn Quốc tự tử trong cô đơn vì ko chịu nổi sức ép tin đồn trên báo chí là những ví dụ đáng sợ mà người viết và tổ chức truyền thông phải chú ý.

Media feeding frenzy như một trò đánh bạc, hoặc tăng rating, uy tín báo chí, hoặc bị cộng đồng trách móc và tẩy chay vì xâm hại các giá trị nhân bản mà cộng đồng theo đuổi.



Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

Góc độ pháp luật trong câu chuyện của Viet Nam Airline và ông Lê Minh Khương

Trong thời gian vừa qua báo chí đã rất ồn ào xung quanh vụ việc giữa Viet Nam Airline và ông Lê Minh Khương (HLV đội tuyển Taekwondo Quốc gia). Để cho dễ trình bày dưới góc độ pháp luật thì tớ tóm tắt sự việc (qua kênh thông tin của báo chí) thế này:

- Chuyến bay mang số hiệu VN1169 ngày 18/4 từ Hà Nội vào TP HCM của VNA do điều kiện thời tiết xấu đã không thể hạ cánh ở sân bay Tân Sơn Nhất mà phải bay vòng vòng trên trời rồi trở ra sân bay Đà Nẵng. Ở sân bay Đà Nẵng thì ông Khương đã đòi xuống, tiếp viên đã giải quyết cho xuống nhưng sau đó chính ông Khương lại thay đổi ý định. Tiếp đó, ông Khương đã đòi tiếp viên phải trả cho mình cái thẻ lên tàu nhưng không được tiếp viên đáp ứng nên đã có những phản ứng với tiếp viên. Tiếp viên trưởng đã báo cáo sự việc với cơ trưởng của chuyến bay. Cơ trưởng của chuyến bay đã yêu cầu an ninh sân bay lên máy bay và can thiệp. Khi an ninh sân bay của cụm cảng Hàng không Miền Trung lên máy bay thì đã cưỡng chế ông Khương xuống máy bay.

Giờ xin mời các bạn ngó qua một số điều luật được quy định trong Luật Hàng Không Dân dụng Việt Nam được Quốc hội ban hành ngày 12/7/2006 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007:

Điều 10. Thanh tra hàng không

1. Thanh tra hàng không thuộc Thanh tra Bộ Giao thông vận tải thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về hàng không dân dụng.
2. Thanh tra hàng không có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Thanh tra việc tuân thủ các quy định về giấy tờ, tài liệu, chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng; tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm an toàn kỹ thuật và điều kiện đối với tàu bay, trang bị, thiết bị phục vụ tàu bay, cảng hàng không, sân bay, bảo đảm hoạt động bay và các lĩnh vực khác của hoạt động hàng không dân dụng;
b) Đình chỉ hoạt động của tổ chức, cá nhân và phương tiện vi phạm quy định về an toàn hàng không, an ninh hàng không hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện kỹ thuật an toàn hàng không, an ninh hàng không;
c) Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
d) Tạm giữ tàu bay;
đ) Phối hợp với Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan hữu quan ở địa phương trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hàng không dân dụng;
e) Kiến nghị áp dụng các biện pháp xử lý và khắc phục những vi phạm trong hoạt động hàng không dân dụng.
3. Thanh tra hàng không được trang bị đồng phục, phù hiệu và phương tiện cần thiết.
4. Tổ chức và hoạt động của Thanh tra hàng không thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về thanh tra.

Điều 12. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng không dân dụng

1. Các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:
a) Sử dụng tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và các trang bị, thiết bị hàng không mà không có giấy phép phù hợp;
b) Thực hiện nhiệm vụ của nhân viên hàng không mà không có giấy phép, chứng chỉ phù hợp;
c) Thả thiết bị, vật dụng hoặc các vật thể khác vào không trung gây ảnh hưởng đến an toàn bay, môi trường và dân sinh;
d) Bay vào khu vực hạn chế bay, khu vực cấm bay trái quy định;
đ) Gây nhiễu, chiếm dụng, khai thác trùng lắp các tần số vô tuyến điện dành riêng cho hoạt động hàng không dân dụng;
e) Làm hư hỏng hệ thống tín hiệu, trang bị, thiết bị, đài, trạm thông tin, điều hành bay, các trang bị, thiết bị khác tại cảng hàng không, sân bay hoặc điều khiển, đưa các phương tiện mặt đất không đáp ứng điều kiện kỹ thuật vào khai thác tại khu bay;
g) Xây dựng công trình kiến trúc, lắp đặt trang bị, thiết bị, trồng cây có khả năng gây ảnh hưởng đến hoạt động bay và hoạt động của các trang bị, thiết bị quản lý vùng trời, quản lý hoạt động bay;
h) Xây dựng trong khu vực cảng hàng không, sân bay, khu vực lân cận cảng hàng không, sân bay các công trình hoặc lắp đặt các trang bị, thiết bị gây ra nhiều khói, bụi, lửa, khí thải hoặc xây dựng trường bắn hoặc các công trình, lắp đặt các trang bị, thiết bị khác có khả năng ảnh hưởng đến an toàn bay, hoạt động của các trang bị, thiết bị tại cảng hàng không, sân bay;
i) Lắp đặt, sử dụng trong khu vực cảng hàng không, sân bay hoặc khu vực lân cận cảng hàng không, sân bay các loại đèn, ký hiệu, tín hiệu hoặc các vật thể ảnh hưởng đến việc tàu bay cất cánh, hạ cánh tại cảng hàng không, sân bay hoặc việc nhận biết cảng hàng không, sân bay;
k) Nuôi, thả chim, gia súc, gia cầm trong khu vực cảng hàng không, sân bay;
l) Can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng;
m) Đưa vũ khí, chất cháy, chất nổ, các vật phẩm nguy hiểm khác lên tàu bay, vào cảng hàng không, sân bay và các khu vực hạn chế khác trái quy định;
n) Phá hủy, gây hư hại, làm biến dạng, di chuyển vật đánh dấu, vật ngăn cách, vật ghi tín hiệu, vật bảo vệ tại cảng hàng không, sân bay; làm hư hại các ký hiệu, thiết bị nhận biết cảng hàng không, sân bay;
o) Đe dọa, uy hiếp an toàn bay, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác trong tàu bay;
p) Cạnh tranh không lành mạnh và các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm khác.

2. Quy định tại điểm c và điểm đ khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với tàu bay công vụ.

Điều 73. Tiếp viên hàng không

1. Tiếp viên hàng không là người thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho hành khách trong chuyến bay, phục vụ trên tàu bay theo sự phân công của người khai thác tàu bay hoặc người chỉ huy tàu bay nhưng không được thực hiện nhiệm vụ của thành viên tổ lái.
2. Nhiệm vụ cụ thể của tiếp viên hàng không đối với từng loại tàu bay do người khai thác tàu bay quy định. Người khai thác tàu bay phải bố trí đủ số lượng tiếp viên hàng không và phù hợp với loại tàu bay.

Điều 74. Người chỉ huy tàu bay

1. Người chỉ huy tàu bay là thành viên tổ lái được người khai thác tàu bay chỉ định cho một chuyến bay; đối với hoạt động hàng không chung không vì mục đích thương mại thì do chủ sở hữu tàu bay chỉ định.
2. Người chỉ huy tàu bay có quyền cao nhất trong tàu bay, chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn hàng không, an ninh hàng không cho tàu bay, người và tài sản trong tàu bay trong thời gian tàu bay đang bay.
Tàu bay được coi là đang bay kể từ thời điểm mà tất cả các cánh cửa ngoài được đóng lại sau khi hoàn thành xếp tải đến thời điểm mà bất kỳ cửa ngoài nào được mở ra để dỡ tải; trong trường hợp hạ cánh bắt buộc, tàu bay được coi là đang bay cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm nhận trách nhiệm đối với tàu bay, người và tài sản trong tàu bay.

Điều 75. Quyền của người chỉ huy tàu bay

1. Quyết định và chịu trách nhiệm về việc cất cánh, hạ cánh, huỷ bỏ chuyến bay, quay trở lại nơi cất cánh hoặc hạ cánh khẩn cấp.
2. Không thực hiện nhiệm vụ chuyến bay, kế hoạch bay hoặc chỉ dẫn của cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu trong trường hợp cần tránh nguy hiểm tức thời, trực tiếp cho hoạt động hàng không và phải báo cáo ngay với cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu.
Trong trường hợp vì tránh nguy hiểm tức thời, trực tiếp mà phải bay chệch đường hàng không thì sau khi hết nguy hiểm, người chỉ huy tàu bay và cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu phải nhanh chóng áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đưa tàu bay về đường hàng không.
3. Trong thời gian tàu bay đang bay, được áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những người thực hiện một trong các hành vi sau đây trong tàu bay:
a) Phạm tội;
b) Đe doạ, uy hiếp an toàn hàng không, an ninh hàng không;
c) Hành hung hoặc đe dọa thành viên tổ bay, hành khách;
d) Không tuân theo sự hướng dẫn của người chỉ huy tàu bay hoặc của thành viên tổ bay thay mặt người chỉ huy tàu bay về việc bảo đảm an toàn cho tàu bay, duy trì trật tự, kỷ luật trong tàu bay;
đ) Phá hoại thiết bị, tài sản trong tàu bay;
e) Sử dụng ma tuý;
g) Hút thuốc trong buồng vệ sinh hoặc ở những nơi không được phép có khả năng uy hiếp an toàn của tàu bay;
h) Sử dụng thiết bị điện tử xách tay, điện thoại di động hoặc các thiết bị điện tử khác khi tàu bay cất cánh, hạ cánh hoặc khi bị cấm vì an toàn chuyến bay;
i) Các hành vi vi phạm thuần phong, mỹ tục của dân tộc, vi phạm trật tự công cộng khác.
4. Giao những người thực hiện các hành vi quy định tại khoản 3 Điều này cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi tàu bay hạ cánh tại cảng hàng không, sân bay gần nhất.
5. Quyết định việc xả nhiên liệu, thả hành lý, hàng hoá hoặc các đồ vật khác từ tàu bay theo quy định tại Điều 88 của Luật này.
6. Ra mệnh lệnh cần thiết đối với mọi người trong tàu bay và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm nhận trách nhiệm đối với tàu bay, người và tài sản trong tàu bay trong trường hợp hạ cánh bắt buộc.
7. Thực hiện các công việc sau đây trong trường hợp không nhận được chỉ thị hoặc chỉ thị không rõ ràng của người khai thác tàu bay và phải thông báo ngay cho người khai thác tàu bay:
a) Thanh toán những khoản chi phí cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ của chuyến bay, bảo đảm an toàn cho người và tài sản trong chuyến bay;
b) Thực hiện những công việc cần thiết để tàu bay tiếp tục chuyến bay;
c) Thuê nhân công trong thời hạn ngắn theo từng vụ việc cần thiết cho chuyến bay.

Điều 76. Nghĩa vụ của người chỉ huy tàu bay

1. Thi hành chỉ thị của người khai thác tàu bay.
2. Áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho tàu bay, người và tài sản trong tàu bay khi tàu bay bị lâm nguy, lâm nạn và là người cuối cùng rời khỏi tàu bay.
3. Thông báo cho cơ sở đang cung cấp dịch vụ không lưu và trợ giúp theo khả năng nhưng không gây nguy hiểm cho tàu bay, người và tài sản trong tàu bay của mình khi phát hiện người, phương tiện giao thông hoặc tài sản khác bị nạn ở ngoài tàu bay.
4. Áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đưa tàu bay về đường hàng không trong trường hợp bay chệch đường hàng không.

Điều 190. An ninh hàng không
1. An ninh hàng không là việc sử dụng kết hợp các biện pháp, nguồn nhân lực, trang bị, thiết bị để phòng ngừa, ngăn chặn và đối phó với hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng, bảo vệ an toàn cho tàu bay, hành khách, tổ bay và những người dưới mặt đất.
2. Hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng là hành vi có khả năng uy hiếp an toàn hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm một trong các hành vi sau đây:
a) Chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay đang bay;
b) Chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay trên mặt đất;
c) Sử dụng tàu bay như một vũ khí;
d) Bắt giữ con tin trong tàu bay hoặc tại cảng hàng không, sân bay;
đ) Xâm nhập trái pháp luật vào tàu bay, cảng hàng không, sân bay và công trình, trang bị, thiết bị hàng không dân dụng;
e) Đưa vật phẩm nguy hiểm vào tàu bay, vào cảng hàng không, sân bay và khu vực hạn chế khác trái pháp luật.
Vật phẩm nguy hiểm bao gồm vũ khí, đạn dược, chất cháy, chất nổ, chất phóng xạ và các vật hoặc chất khác có khả năng gây nguy hiểm hoặc được dùng để gây nguy hiểm cho sức khoẻ, tính mạng của con người, sự an toàn của chuyến bay;
g) Cung cấp các thông tin sai đến mức uy hiếp an toàn của tàu bay đang bay hoặc trên mặt đất; an toàn của hành khách, tổ bay, nhân viên mặt đất hoặc người tại cảng hàng không, sân bay và công trình, trang bị, thiết bị hàng không dân dụng.

Điều 197. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động hàng không dân dụng
1. Người khai thác cảng hàng không, sân bay chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh hàng không tại cảng hàng không, sân bay; xây dựng chương trình an ninh hàng không dân dụng của người khai thác cảng hàng không, sân bay.
2. Hãng hàng không Việt Nam chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh hàng không đối với hoạt động của mình; xây dựng chương trình an ninh hàng không dân dụng của hãng.
3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không lưu chịu trách nhiệm xây dựng phương án điều hành tàu bay khi đang bay bị can thiệp bất hợp pháp.
4. Hãng hàng không nước ngoài thực hiện vận chuyển thường lệ đến và đi từ Việt Nam phải trình Bộ Giao thông vận tải chương trình an ninh hàng không dân dụng đã được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nơi hãng hàng không có trụ sở chính hoặc có địa điểm kinh doanh chính phê duyệt.
5. Tổ chức, cá nhân khác tham gia hoạt động hàng không dân dụng phải thực hiện các quy định của pháp luật về an ninh hàng không.
6. Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá việc áp dụng các biện pháp bảo đảm an ninh hàng không theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

(Xem bản đầy đủ của Luật Hàng không Dân dụng Việt Nam tại đây)

Dẫn chứng các điều luật một cách dài dòng như thế là vì tớ nhận định rằng: Trong quá trình tranh luận, tranh cãi với ông Khương thì tiếp viên trưởng đã nhận định rằng “ông hành khách tên Khương có thể có nguy cơ xâm hại đến an toàn của chuyến bay” nên đã báo cáo sự việc lên Cơ trưởng. Cơ trưởng khi nhận được thông tin từ tiếp viên trưởng đã báo với An ninh Hàng không của Cụm cảng Miền Trung đề nghị can thiệp và An ninh Hàng không đã lên máy bay thực hiện công việc của mình. Với nhận định như trên thì tớ cho rằng Cơ trưởng của chuyến bay và An ninh Hàng không đã thực hiện hoàn toàn đúng với chức năng và nhiệm vụ của mình. Vậy mấu chốt của vấn đề chỉ còn lại là: Tiếp viên trưởng nhận định về “nguy cơ xâm hại đến an toàn chuyến bay” của ông Khương đã chính xác hay không? Mà cái sự nhận định này thì lại rất cảm tính, chỉ cần ông Khương hơi thiếu bình tĩnh mà phát ngôn quá lời là nhận định ấy sẽ hoàn toàn trở nên đúng đắn.

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

Dân chủ và dân vô chủ....

(Copy từ blog Canhcungxanh)

Danchu: buzz! buzz!

Danvochu: Gìe thé!? Quen biết gì nhau không mà buzz bà thế? Buzz linh tinh lang tang bà chửi cho tan nát hoa chè, thè lè hoa cúc nở giờ. Bà đang phấn son buổi sáng để dạng háng cho buổi trưa… Đứa nào làm phiền bà thế?

Danchu: Thưa bà, tôi buzz cho bà từ tạp chí Dân chủ. Rất tình cờ tôi nhìn thấy nick bà sáng đèn nên muốn xin hỏi bà vài câu như một cách tham khảo ý kiến người dân. Bà có sẵn sàng không?

Danvochu: Thế cứ phông lông là buzz nhau thế hử! Tạp chí đéo giè mà chả lịch sự tẹo nào. Rồi, tham khảo gì thì cứ hỏi nhanh đê bà còn makeup nốt chứ bởi tại mày làm bà phân tâm đang chả biết nên chấm nốt ruồi vào đâu.

Danchu: Thưa bà, với tư cách là người dân, chắc bà biết một phiên tòa vừa diễn ra cách đây ít hôm tại Hà Nội phải không ạ?

Danvochu: Hỏi khó! Mấy hôm nay bà chỉ quan tâm đến cụ Rùa thôi nhưng giờ cụ ấy chả còn là đàn ông nữa nên bà chán rồi. Nên tạp chí Dân chủ cứ cho là bà chả biết nhá! Lại cướp giết hiếp rồi kéo nhau ra tòa chứ gì?

Danchu: Thưa không! Đó là phiên tòa xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ 7 năm tù giam vì tội tuyên truyền, chống phá chính quyền nhân dân. Chúng tôi muốn xin ý kiến của bà ra sao về phiên tòa này?

Danvochu: Thằng đấy rõ hâm, bà bảo là hâm chứ đéo phải ngông nhá! Tối ngày cứ kiện cáo vớ vẩn chứ tài cán giè, suốt ngày cứ như thằng Chí Phèo đi rạch mặt ăn vạ. Bà là bà chả ưa cái ngữ ấy! Bà là dân, bà chỉ thích yên ổn làm ăn thôi! Bà yêu đời, bà thích chim bồ câu trắng, nhậu rất chi là ngon.

Danchu: Nhưng thưa bà có người cho đó là phiên tòa trơ trẽn.

Danvochu: Bà xin lỗi mày nhá! Cả thế giới này chả thằng đéo nào làm chính trị mà không nham nhở, trơ trẽn cả. Làm điếm phải xinh, làm tình thì phải cởi cả quần cả áo, làm báo phải la cà còn làm chính trị gia thì phải trơ trẽn. Thằng phát biểu cái câu ấy cũng có mấy chục năm trơ trẽn đấy thôi! Chả nhẽ lúc còn quyền hành nó mù câm điếc đến lúc về hưu thì mới sáng mắt ra? Trơ trẽn cả bầy, chỉ bà mày là duyên dáng thôi con ạ! Hết duyên là đói đấy!

Danchu: Lại một nhà thơ bảo dù lý lẽ mà tiến sĩ họ Cù đưa ra là chưa hẳn đúng nhưng được ở cái…tinh thần. Mà tinh thần ấy theo chúng tôi là tiến sĩ đang hoạt động đấu tranh vì dân chủ.

Danvochu: Thế mày nhắn hộ lời bà đến nhà thơ đấy là nếu thích cái tinh thần ấy thì cứ tự nhiên mang về ngâm rượu mà uống. Mày chả nghe thiên hạ có câu ngu dốt cộng nhiệt tình ngang phá hoại hử. Chuyện nhớn bà mày cần đứa khôn chứ đéo cần đứa nhiệt tình.

Danchu: Nhưng, lại có tiến sĩ vừa bảo dân có quyền chỉ trích và đấu tranh lật đổ chính phủ.

Danvochu: Bà cũng là dân và bà cũng có quyền chửi thằng nào đòi lật đổ chính phủ là quân mất dạy…

Danchu: Bà bàng quang với thời cuộc chăng khi không thấy những gì mà những nhà cầm quyền là sai trái?

Danvochu: Bà thấy cả nhưng bà cũng chả tin các thằng khác làm tốt hơn nếu chả muốn nói chúng nó toàn bọn vớ vẩn, lôm côm và chuyên làm những chuyện ruồi bâu dương vật ngựa. Bà nói thê để nhỡ mày về làm báo cho thanh, chớ ghi cặc vào đấy đời chúng lên án bà tục tĩu con nhá! Ví dụ ba thằng giám thị vớ vẩn, trình độ cao lắm bằng cái rắm con chụp ảnh vì môi trường, chụp vài cái ảnh gian lận thi cử được cánh truyền thông phóng lên thành người hùng rồi giờ chỗ nào cũng thấy chỉa mồm vào nói oang oang như thánh sống. Ngữ ấy chỉ tổ mua vui cho bà.

Danchu: Tôi đồ bà là dân cộng sản nằm vùng?

Danvochu: Nói khác chắc gì chúng mày tin mà bà cũng chả việc đéo gì phải nói cho mày biết bà là ai. Chúng mày đồ về bà thế nào bà chả quan tâm. Cái bà quan tâm là xứ rồng lộn này có bốn nghìn năm thì mất ba nghìn tám năm làm nô lệ. Dân tộc này anh hùng thế là đủ, oai phong thế là thừa, thế giới chục tướng tài xứ này có hai lắm lúc ngẫm bà mày thẹn. Xứ thiên hạ tự hào vì máy bay, cao tốc, nhà chọc giời xứ này tự hào vì anh hùng đâu ra mà lắm thế. Vừa nức mắt ra lại tiếp tục đòi đấu tranh. Sao chúng mày khoái đấu tranh thế? Chúng mày rững mỡ vừa thôi cho đời nó còn trong. Nói xấu hổ, chả biết chúng mày làm cách mệnh có thành công không nhưng bà trộm nghĩ nếu thành thì cũng vui vẻ phết. Ví như đấu tranh xong, thằng Trung Cuốc chúng khoe chúng vừa đi ỉa trên mặt trăng về thì chúng mày đang ngồi cặm cụi xây lại cái nhà xí nhưng vẻ mặt vẫn rất đỗi hân hoan, sung sướng vì xứ này một lần nữa được tiếng…anh hùng. Lồn é! Đến giờ rồi, bà đi dạng háng đây! Thế bà là ai chắc chúng mày biết rồi đấy nhỉ!

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

“Lượm” - “Hà Minh Thành” và câu chuyện nghiệp vụ báo chí.

Định viết mấy lần về câu chuyện nghiệp vụ báo chí với mấy cái sự kiện như “Lượm” và ông “Hà Minh Thành” nhưng cứ mắc cái bệnh lười. Cho đến lúc đọc cái entry “Phản chữ” trên blog BEO thì mới ngứa ngáy quá chịu không được.


Chuyện của “Lượm” thì nhiều người đều biết, đại khái là: “Lượm” viết 01 câu chuyện kể về “đời mình” và tham gia 01 cuộc thi của trang TintucOnline (của Viet Nam Net) tổ chức. Ban tổ chức cuộc thi đã trao giải cho “Lượm”, VTV thấy câu chuyện hay quá (nghe nói cũng có lý do VTV mời Lượm là để chữa cháy cho 01 khách mời khác nhưng không đủ thông tin chính xác nên tớ không dám khẳng định) nên mời “Lượm” đến tham gia chương trình Người xây tổ ấm. Sau khi VTV phát sóng thì nhiều người gửi tiền đến cho “Lượm”, sau một thời gian thì “Lượm” hối hận và xin lỗi độc giả, kiện tụng…Câu chuyện nghiệp vụ báo chí ở đây rất rõ ràng nhưng hình như VTV quên mất: Cuộc thi “Mối tình đầu của tôi” do trang TintucOnline tổ chức không hề có quy định rằng chuyện viết ra phải là chuyện thật. Theo nguyên tắc cơ bản của nghề báo thì khi tiếp tục sử dụng thông tin của “Lượm” đưa ra trong câu chuyện của mình trong cuộc thì kia Ban biên tập chương trình Người xây Tổ ấm phải kiểm tra lại cho chính xác nhưng họ đã không làm. Việc không kiểm tra chính xác rồi cứ thế tin vào các đồng nghiệp ở Viet Nam Net là một bài học kinh nghiệm cho những người làm chương trình Người xây Tổ ấm của VTV. Điều hơi mừng ở đây là lần đầu tiên Bộ 4T ra một quyết định xử phạt Đài Truyền hình Việt Nam về hành vi “thông tin sai sự thật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng”, chuyện chưa từng có trong lịch sử báo chí Cách mạng Việt Nam J

Câu chuyện ông “Hà Minh Thành” thì có phức tạp hơn chút xíu. Thoạt tiên bài viết được đăng trên blog của ông nhà văn Phạm Viết Đào. Câu chuyện về cậu bé 9 tuổi xếp hàng nhận lương thực phát chẩn nhưng đã dạy cho ông “Hà Minh Thành” một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh. Có ít nhất 06 cơ quan báo chí lớn của Việt Nam cùng “nhảy vào” đăng lại bài viết này (báo Tuổi Trẻ Tp.HCM, báo Dân Trí, báo Người Lao Động, báo Sài Gòn Tiếp thị, VN Express và chuyên trang Tuần Việt Nam của Viet Nam Net).

Hầu hết các cơ quan báo chí trên đã bỏ qua một nguyên tắc cơ bản của nghiệp vụ báo chí đó là: kiểm tra lại tính chính xác của thông tin, nguồn tin. Cho đến giờ này, ngay tại blog của ông nhà văn Phạm Viết Đào thì ông “Hà Minh Thành” cũng đã thừa nhận không hề có ông “Hà Minh Thành” nào cả, xin trích dẫn nguyên văn:

“Mở ngoặc thêm: Trên blog Phamvietdonv chưa có dòng nào giới thiệu Hà Minh Thành là Tiến sĩ cả; Chỉ giới thiệu anh làm việc trong lực lượng cảnh sát tham, gia cứu hộ ở vùng Fukushima do anh tự giới thiệu ! Khi đăng bài này Blog Phamvietdaonv chỉ biết Hà Minh Thành là người đang sống ở Nhật Bản theo anh tự giới thiệu !”

“Hà Minh Thành thực ra là môt code name của em để liên lạc với bên ngoài cũng như tiếp xúc với anh, chỉ có cái họ của em là đúng thôi còn tên dĩ nhiên không phải tên thật. Điều này em cũng xin lỗi anh và mong anh thông cảm vì công việc của em nó buộc phải như vậy.”

Vậy ông “Hà Minh Thành” kia còn không có thật thì câu chuyện cậu bé 9 tuổi kia cũng chẳng có căn cứ nào để khẳng định là chính xác cả. Nếu các báo muốn đăng câu chuyện này hãy nói rõ với bạn đọc rằng “đây là thông tin chưa được chúng tôi kiểm chứng” tức là vì lý do áp lực công việc quá nhanh, quá gấp, chúng tôi chưa hoàn thành hết trách nhiệm của mình, bạn đọc hãy tự phán xét chứ đừng “lập lờ đánh lận con đen”.

Hệ thống cơ quan tình báo Nhật Bản

Sau khi bại trận trong Thế chiến II, Nhật Bản đã bị hạn chế ở nhiều lĩnh vực an ninh, trong đó có tình báo đối ngoại.

Chẳng hạn, tin tức về các vụ phóng tên lửa của Bắc Triều Tiên, Tokyo nhận được từ Mỹ. Nhưng thời gian trôi đi, và Tokyo đã không còn sợ hãi các vụ scandal ngoại giao. Nhật Bản đã bắt tay thành lập cơ quan tình báo đối ngoại. Người ta biết được điều đó từ báo cáo mật gửi từ đại sứ quán Mỹ ở Tokyo về Washington. Báo cáo này nằm trong số các tài liệu do site WikiLeaks đăng tải và lọt vào tay báo The Sydney Morning Herald của Australia.

Ý định thành lập cơ quan tình báo đối ngoại Nhật là do Cục trưởng Thông tin mật và nghiên cứu Nhật Bản Hideshi Mitani nói với một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ vào tháng 10.2008. Trong báo cáo của đại sứ quán Mỹ nói rằng, chính phủ Nhật Bản đã quyết định tiến chậm trên hướng này vì nhận thức được sự thiếu thốn kiến thức cần thiết, kinh nghiệm và nhân lực còn phải đào tạo.

Các ưu tiên của cơ quan tình báo đối ngoại Nhật Bản sẽ là CHDCND Triều Tiên và Trung Quốc. Nhưng rõ ràng là Nhật Bản cũng không bỏ quên nước Nga và hướng Bắc vẫn là một hướng chiến lược đối với Tokyo.

Cộng đồng tình báo Nhật:

Hiện nay, ở Nhật Bản đã có một hệ thống các tổ chức làm công tác tình báo và phản gián, bảo đảm cung cấp cho chính phủ thông tin về các mối đe dọa bên trong và bên ngoài, cũng như tiến hành các hoạt động khác trong lĩnh vực an ninh quốc gia.

Đó là Cục Nghiên cứu thông tin trực thuộc nội các; Các cơ quan tình báo quân sự, Cục Thông tin và nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao; Tổng nha Cảnh sát; Cục Điều tra an ninh công cộng trực thuộc Bộ Tư pháp; Các cơ quan phản gián quân sự; Cục Di trú; Cục An ninh trên biển.

Cục Nghiên cứu thông tin trực thuộc nội các Nhật Bản

Đây là cơ quan tình báo hàng đầu của Nhật Bản hiện nay. Các chức năng của nó là: thu thập tin tức cần cho các thành viên nội các để trước hết là đưa ra các quyết định chính trị. Cục này gồm 6 phòng: Thông tin nội địa, Thông tin ngoài nước, Phối hợp với các cơ quan đặc vụ khác của Nhật Bản, Phối hợp với các cơ quan nhà nước, Phối hợp với các tổ chức xã hội và các hãng tư nhân, Liên lạc với báo chí, Phân tích. Quân số của Cục không lớn, thu hút các điệp viên hợp tác trong số các công dân nước ngoài, cũng như các cán bộ nhân viên các cơ quan nhà nước và các tổ chức tư nhân làm việc ở nước ngoài. Theo thông tin của các nhà báo Nhật, sẵn lòng hợp tác với Cục Nghiên cứu thông tin trực thuộc nội các Nhật Bản là các nhân viên các hãng thông tấn lớn nhất và các hãng công nghiệp-thương mại của Nhật. Các cán bộ trong biên chế của Cục hoạt động ở nước ngoài, sử dụng bình phong ngoại giao.

Tình báo quân sự

Nền tảng hoạt động của cơ quan này áp dụng các nghiên cứu và kinh nghiệm của Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ DIA. Trọngt âm chú ý là tình hình trên bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và Liên bang Nga. Để thu thập tin tức, họ sử dụng hầu như tất cả các phương thức tình báo: điệp báo, tình báo kỹ thuật vô tuyến điện, vô tuyến điện tử, vũ trụ và đặc biệt. Các cơ sở tình báo kỹ thuật mạnh nhất triển khai trên đảo Hokkaido. Cùng với các phương tiện tương tự của quân đội Mỹ, chúng liên tục theo dõi Hạm đội Thái Bình Dương và lực lượng của Quân khu Viễn Đông của Nga.

Phản gián quân sự

Nhật cũng lấy hình mẫu là các cơ quan tương ứng của quân đội Mỹ. Các nhân viên phản gián quân sự có mặt ở hầu như tất cả các cấp chỉ huy, kể từ các bộ tham mưu quân chủng. Họ hợp tác chặt chẽ với các sĩ quan phản gián quân sự của quân đội Mỹ đóng ở quần đảo Nhật Bản.

Cục Thông tin và nghiên cứu - Bộ Ngoại giao

Nhiệm vụ chính của cơ quan này là thu thập tin tức cần để xây dựng chính sách đối ngoại của Nhật, phân tích thông tin và đưa ra các đề xuất với ban lãnh đạo Bộ Ngoại giao Nhật. Thông tin chủ yếu thu thập từ các nguồn công ngai, được các đại sứ quán Nhật tại nước ngoài gửi về.

Tổng nha Cảnh sát

Một trong những nhiệm vụ của Tổng nha Cảnh sát là bảo đảm phản gián cho an ninh quốc gia. Tại Tổng nha này, trực tiếp làm nhiệm vụ đó là Cục Bảo vệ, gồm 3 phòng chức năng chính: an ninh công cộng, nước ngoài và điều tra. Các lực lượng chủ lực của phản gián tập trung ở vùng thủ đô. Các đơn vị tương tự cũng triển khai hoạt động ở tất cả các tỉnh của Nhật.

Cục Điều tra an ninh công cộng - Bộ Tư pháp

Khác với Tổng nha Cảnh sát, các nhân viên của Cục Điều tra an ninh công cộng trực - Bộ Tư pháp làm nhiệm vụ bảo đảm phản gián bảo vệ trật tự hiến pháp của Nhật. Bởi vậy, họ theo dõi hoạt động của các tổ chức cực đoan, phát xít, các đảng, phong trào, nhóm cấp tiến. Cơ cấu của Cục cũng gần như cơ cấu tổ chức của Tổng nha Cảnh sát, có: bộ máy trung tương và các đơn vị ở các tỉnh.

Cục Di trú

Là một bộ phận của Bộ Ngoại giao Nhật, ngoài nhiệm vụ cơ bản là kiểm soát xuất/nhập cảnh của công dân, còn làm nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo và phản gián; theo dõi người nước ngoài đến Nhật.

Cục An ninh trên biển

Không nhiều quốc gia có cơ quan như vậy. Cục An ninh trên biển làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới biển, tiến hành hoạt động tình báo trên biển, kiểm soát ngành đánh cá trong phạm vi 200 hải lý, tham gia cứu hộ/cứu nạn trên biển. Thời bình, Cục này là bộ phận của Bộ Giao thông, thời chiến thì chuyển cho Hải quân Nhật.

Tuy vậy, ngay trong thời bình, các lực lượng của Cục An ninh trên biển vẫn thực hiện các nhiệm vụ của mình với sự phối hợp chặt chẽ của Hải quân Nhật, trước hết liên quan đến hoạt động tình báo.

Về tổ chức, Cục này gồm bộ máy trung ương và 11 vùng. Quan trọng nhất là Vùng 1 - đảo Hokkaido, với các hướng Sakhalin và Kurils. Trong trang bị của Cục có hơn 500 tàu xuồng các loại. trong đó, có các tàu đại dương, tàu tuần tra, tàu tìm/cứu, tàu thủy văn và tàu bảo dưỡng thiết bị đạo hàng. Không quân của Cục gồm có hơn 60 máy bay tuần tra và trực thăng. Trang bị kỹ thuật luôn được đổi mới.

Tổng quân số dao động trong khoảng 12.000 người. Phục vụ trong Cục An ninh trên biển chỉ có những người tình nguyện, sau khi huấn luyện sơ bộ tại các trung tâm đào tạo tương ứng. Ngoài ra, trước khi gia nhập Cục, ứng viên bắt buộc phải từng phcuj vụ trong Hải quân Nhật. Loại hình hoạt động chính của các lực lượng Cục An ninh trên biển là tuần tra của lực lượng trên biển và không quân của Cục tại các vùng được giao. Ngoài ra, còn có các trạm radar hoạt động trên bờ, bao quát chắc chắn các đường tiếp cận bờ biển.

(Nguồn: vietnamdefence )

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2011

Yên Khuê - Kỳ Thư - Khôi Nguyên

Những tấm ảnh dưới đây được bác 5xu chụp hôm Tết ở Hà Nội.

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2011

Một mình vào ngã ba biên giới

Huy Minh
(11/1999)

Sau lưng tôi là ngàn vạn núi đồi Tây Bắc. Bên trái là dãy Phu Đen Đinh khổng lồ ôm trọn một dải biên thuỳ phân định Phong Xa Lỳ – Sầm Nưa với Lai Châu, thế giới của sơn dương và cầy cáo, đêm đêm vẫn dội lên tiếng guốc của nai, hoẵng, tiếng gầm của hổ và báo sao trong những thung lũng xa xôi. Bên phải là dải Phu Si Lung cao tới tận mây xanh, xứ sở của mây mù, núi cao và khe sâu, của huyền thoại xa xưa lắm rồi về một cung điện hoa phù dung trong lòng đất đã sụp đổ từ lâu, chỉ còn trong ký ức cư dân sống ở lưng chừng những đỉnh non cao. Còn trước mắt tôi là Apachải, là bản Hà Nhì cuối cùng nằm ở cực Tây của Tổ quốc. Từ đây trở về Hà Nội phải mất ít nhất 10 ngày trời cho chặng đường non 1.000 cây số, trong đó có 7 ngày đi bộ. Nhìn lại mình: giày ba-ta rách nát, các ngón chân tụ huyết, đầy những vết cắn của vắt, ruồi vàng, cỏ gianh và đá sắc, toàn thân ớn lạnh vì mồ hôi và khí đá khi chiều đang dần tắt. Tôi không chắc lắm từ đỉnh dốc này mấy cây số đường chim bay nữa sẽ đến toạ độ 103o46’ kinh đông chia ba biên giới, đến bản Long Phú, huyện Giang Thành, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, đến bản Lầu Sì Pơ Chải và Si Ca Hồ, huyện Nhọt U, tỉnh Phong Xa Lỳ nước bạn Lào, nhưng chắc rằng đó đã là những chân trời khác, không còn là Tổ quốc tôi. Còn đây là thung lũng Apachải, một dải đất bằng phẳng hiếm hoi như tuột xuống từ chân mây, vàng rực rỡ trong rừng hoa cúc quỳ dại nở suốt thượng nguồn Mophí, nơi thị thành xa mãi sau lưng kia đêm đã xuống từ lâu, nhưng ở đây ánh tà dương vẫn còn sáng ửng trên những đỉnh đồi trùng điệp, nơi Tổ quốc giã từ ánh nắng.


Có bốn con đường đến được Apachải. Thứ nhất là đi trực thăng quân đội chỉ sử dụng khi có chiến tranh hoặc mưa lũ cực lớn, cần dùng cầu hàng không để vận chuyển lương thực. Thứ hai là đi từ Điện Biên Phủ đến Mường Lay, chờ một hai ngày có xe đi Siphaphìn, từ đó đi bộ dọc biên giới Việt – Lào xuyên rừng rậm chừng 6 ngày trời mới tới. Hai cách cuối trước hết đều phải đến Mường Tè, cách lòng chảo Điện Biên 200km. Từ đó có thể đi bộ khoảng 8 ngày qua các bản Giàng Ly Cha, Ngà Chổ, Nậm Dính, Nậm Khum, Leng Su Sìn, Tả Kho Khừ mới đến Apachải. Con đường này phải qua dốc Tà Tổng mà độ cao chỉ thua đèo Pha Đin nổi tiếng của Tây Bắc, leo cật lực một ngày mới lên đến đỉnh, một ngày nữa mới xuống hết dốc. Nếu không chỉ còn cách ngược thượng nguồn sông Đà bằng độc mộc, từ đó đi bộ 6 ngày qua các bản Si Nế, Mù Cả, Ma Ký, Ma Ú, San Sà Hồ, Gò Cứ, Sen Thượng… để đến Apachải. Đây là con đường gần nhất tôi chọn, từ huyện Mường Tè muốn vào chỉ… phải đi bộ có 150km nữa.

Hai giờ sáng tôi mò dậy xách ba lô ra bến xe Điện Biên Phủ. Có điều gì đó không bình thường đang diễn ra ở cái bến xe thường ngày thưa thớt này. Chiều hôm qua, trại C10 vừa trả tự do cho 35 người đàn ông vượt biên trái phép. Nhóm họ đi có 200 người, toàn là nông dân ở Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Trị vay tiền ngân hàng chui lủi đến tam giác vàng, vùng giáp ranh Mianma, Lào, Trung Quốc lặn lội tìm trầm, bị quân đội Lào trục xuất. Cả đêm qua họ uống rượu, đánh nhau, chửi nhau bằng tiếng Lào, tiếng Thái, trút lên đầu nhau những uất hận sau những chuyến đi dài ròng rã, nhưng ở nơi đất khách quê người không dám nói thành lời. Những người đàn ông mặt mũi lì lợm, tóc trùm tai cợp gáy, môi thâm, mắt trắng, ngồi thành từng nhóm, hút thuốc như điên. Kẻ thì nhảy lên ôtô vừa van nài vừa dọa nạt tài xế cho về đến được quê nhà, người thì móc những đồng bạc Thái, đôla nhàu nát giấu trong những con mắt giả, dán sau vành tai, cuộn trong quần lót hoặc những vết thương nào đó trên cơ thể, đổi thuốc, rượu, bánh mì. Tôi chuẩn bị bước tiếp vào một trong những con đường mà họ đã đi qua.

Chưa khởi hành đã gặp điều lo lắng – có thể phải đợi thêm nhiều thời gian sau mới đến được Mường Tè vì không có người đi. Ông tài chạy chuyến này suốt ba hôm sáng nào cũng đánh xe ra bến rồi lại về không. Cuối cùng xe cũng rời bến với tôi, hai người lính và một người thợ làm đường.

Lính biên phòng tiểu khu 40 đóng tại Mường Tè bảo, vào Apachải có 36 kiểu chết: cây đổ, nước cuốn – chết; đất lở, lửa cháy chạy không kịp – chết; rắn cắn, sốt rét, lạc rừng – chết… Vào mùa khô, gió Lào thổi như hắt lửa, lá rừng vỡ vụn dưới bước chân người, lửa rừng cháy suốt đêm trên những đồi cỏ gianh vàng vọt, có những chặng đường đi cả ngày không kiếm nổi một giọt nước. Mùa mưa, đường mòn ngập bùn đến đầu gối, muỗi vắt nhiều vô kể, đất đá trượt ầm ầm trong những thung lũng vắng, suối cuốn trôi trâu, cây rừng mọc nhanh như phù phép, người đi một tay chống gậy, một tay cầm dao phát liên tục mới luồn qua nổi… Xin giấy phép ra vào khu vực biên giới, công an huyện ký cho tôi đi hẳn 2 tháng. Từ xưa đến nay, dù là cán bộ lâu năm ở huyện vào Apachải bao giờ cũng phải có hai người, lỡ ngã bệnh, gãy chân còn cõng nhau ra. Dạng VIP mới được mang theo vô tuyến điện, xảy ra bất trắc thì gọi trực thăng vào cứu. Huyện Mường Tè hiện có 5 cán bộ vào Apachải làm việc, đi đã 47 ngày chưa thấy trở ra, cũng không có tin tức gì hết cả. Khách lạ mặt vào ngã ba biên giới được nửa đường không còn sức quay ra, thì chỉ có mỗi một trò là vào bản nào đó, nói dăm ba câu bậy bạ, dân quân xã sẽ không ngần ngại trói cổ lại, đánh cho một trận rồi vứt lên lưng ngựa giải suốt ngày đêm về huyện.

Chặng đầu tiên là ngược sông Đà. Sông Đà ở thượng nguồn danh bất hư truyền, không giấu giếm phô diễn sức mạnh hoang dại của nó. Sông Đà quanh năm nguy hiểm. Mùa lũ đổ về, có những khúc sông rộng thêm hàng trăm mét, nước ngầu đỏ thúc điên cuồng vào các khối núi chắn đường, tạo thành vực xoáy khổng lồ, nhấn chìm từng thân đại thụ lạc dòng nhẹ nhàng như bèo tấm rồi quăng khỏi mặt nước ở mãi dưới xa. Mùa khô, lòng sông cạn phơi đầy đá tảng, tạo thành những chuỗi cạm bẫy dài vô tận, gầm réo suốt ngày đêm. Ngày tôi đi, thuỷ chế ở mức trung bình nhưng sông Đà lại che giấu trong lòng mình một ẩn hoạ không ai lường trước được – những cây gỗ bị lũ lột truồng cành lá lăn vô định dưới đáy nước là ma trận thiên biến vạn hoá, mà chỉ có những hoa nước nhỏ nở lục bục trên mặt sông là dấu hiệu duy nhất ngầm báo sự có mặt của chúng.

Chiếc xuồng gỗ 40 mã lực dài tới gần 10 mét, mũi cong vút như cánh cung chỉ là một trò chơi con trẻ của dòng nước lũ. Lái xuồng ngược sông Đà có đoạn cần tới hai người nữa: một tát nước tràn vào, một ngồi ở mũi căng áo mưa chắn bọt nước cho người sau khỏi ướt. Lại có những đoạn sông Đà đột nhiên yên ả, phẳng lặng đến lạ thường. Đá ngũ sắc trên các triền núi thẳng đứng soi vẻ thiên kiều bá mị xuống lòng sông trải dài như một tấm gương. Khói xanh từ các mái nhà sàn người Cống, người Thái nằm vắt vẻo trên những đỉnh đồi cho khách lữ hành một cảm giác thanh bình tuyệt đối. Người Mường Tè bảo: sông Đà dữ nhưng không ai sợ sông Đà, có lẽ chẳng sai vì sông Đà đẹp quá. Ngày trở về, nghe tiếng thác sông Đà gào thét từ tận bên kia hai dãy núi mà kẻ xuyên rừng lâu ngày vui mừng như nhận ra tiếng gọi của người thân.

Chừng một giờ xuồng nữa sẽ đến biên giới Việt – Trung, tôi xin xuống. Từ đây tôi chỉ còn có một mình. Đèo Pác Ma thực chất là một bờ sông lớn, dốc thót ruột, leo được một nửa đã chực muốn quay về. Cho đến khi sương chiều dăng đầy đồi núi vẫn không thấy bóng dáng một nóc nhà sàn. Sau một sườn đèo, bỗng vỡ oà tiếng trẻ con cười nói, tiếng chày giã gạo của dân bản Si Nế từ bên kia thung lũng – mệt mỏi lập tức tuột ra khỏi người, trong cảm giác hạnh phúc được nghe thấy thanh âm đồng loại.

Sáng hôm sau tôi dậy sớm, tiếp tục đi. Lại một thân, một mình men theo con suối Nậm Ma. Ngày ở đây chỉ nắng dăm tiếng ban trưa, thời gian còn lại ngập chìm trong sương mù đặc quánh. Người Hà Nhì đi nương, đi săn chỉ có đôi chân trần, đi từ bản nọ đến bản kia mới dùng đến dép. Tôi cứ theo dấu dép hằn trên đất đồi, rêu đá, trên tầng lá mục đầy muỗi, vắt mà đi. Sau những góc núi khuất, chim rừng giật mình đập cánh bay từng đàn lớn. Rừng không bao giờ yên tĩnh bởi gió, cành khô rơi, nước chảy và những tiếng sột soạt kéo dài vô tận. Lại có những lối mòn yên tĩnh đến lạnh sống lưng khiến người đi phải khua gậy vào thân cây ven đường cho bớt sợ.

Si Nế đang hoan hỉ đón sự trở về sau 35 năm xa bản nhỏ của thầy giáo Anh hùng Nguyễn Văn Bôn – huyền thoại của một thời hoá giải lời nguyền “người Hà Nhì lội qua suối bị lừa ăn mất chữ”. Bây giờ dăm ngày người Si Nế mới gặp một dấu chân trâu rừng bên suối, một cây dổi bị gấu bẻ cụt ngọn, chứ thuở thầy Bôn mới đặt chân đến đất này, hươu nai đi thành từng đàn lớn, rừng không có đường mòn, ruồi vàng, bọ chó nhiều vô kể. Ngày ấy người Hà Nhì ở Si Nế không một ai biết tiếng phổ thông, đói bẻ ngọn sậy non mà ăn, rét lấy tro khô trong bếp rắc lên chân cho đỡ lạnh. Năm 1959, theo tiếng gọi của Đảng, thầy Bôn cùng vài người bạn lặn lội lên đây, ngày đó mới 21 tuổi. Nhờ một người bản xứ công tác dưới huyện Mường Tè làm phiên dịch, suốt hai tháng trời, thầy Bôn qua lại bảy bản ở Mù Cả, vận động tất cả trẻ con 8-12 tuổi về học tập trung, được tổng cộng 40 em cả trai lẫn gái, ghẻ đầy mình, chấy đầy đầu, khi đến mang theo… 40 bàn đèn thuốc phiện bằng đồng cổ. Thầy Bôn nhờ dân chặt tre làm trường, làm ký túc xá dân lập đầu tiên trong cả nước ở rẻo cao. Dầu không có, bút không có, thầy dạy trò cầm que viết lên không cho quen cổ tay, rồi viết xuống đất, viết lên lá chuối, ngày dạy học chữ, tối nhảy múa. Biết chữ rồi, người có trình độ già lớp 1, non lớp 2, lại quay về bản dạy cho dân mình. Thế mà cuối cùng có được tới gần 200 học sinh tất cả, nhiều người sau này về tỉnh nên danh phận. Những cái tên như Lý Khai Phà, Lý Phi Chờ, Lý Xé Hừ, Lý Pờ Sơ… là niềm tự hào của tất cả mọi cư dân ở ngã ba biên giới.

Nghe tin thầy về thăm đất cũ, có những người đàn ông bạc đầu chắp tay lạy thầy rồi sụp xuống khóc. Thầy rời bản Mù Cả về đây, bà con còn đi sau tiễn tới nửa ngày đường, kêu qua thung lũng “Ơ, thầy giáo ơi”. Tôi ngồi ghi câu chuyện cũ của người thầy giáo già trong bóng đèn dầu tù mù, ngẩng đầu lên đã thấy bà con đến xem ngồi chật nếp nhà gianh…

Gần nửa đêm, bà con kéo nhau ra một sườn đồi khá rộng hát, xoè. Con gái mặc áo thí mo, mũ uxo, váy dài tự khâu bằng vỏ chăn con công múa suốt đêm không biết mệt – đây là điệu Là le mi só le, kia là điệu Lá lá so phà… Con trai đệm đàn nà khơ, nhị xí gó, làm bằng hộp xà phòng và dây câu cá, thổi sáo mế đu, khoét từ thân cây đót vẫn làm chổi quét nhà trong tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng lép bép của lửa đêm. Ai cũng phải hát, phải xoè. Giữa đêm, mọi người kéo nhau về nhà trưởng bản, cơm gạo nương đỏ đựng vào xô, rượu uống bằng bát, rau thơm hái trên núi về để cả rễ chấm lụ khạ pá xì vừa chát vừa cay, không say không đứng dậy. Uống xong là mổ lợn treo đuôi lên xà nhà xẻo thịt ăn dần, và lại giã gạo, nhảy múa, gõ trống cho đến sáng.

Đêm ấy, trong tiếng sáo bố lố của Pờ Phí Chừ, một người đàn ông bị gấu vồ rách mặt thổi ru thầy, Lương Đức Cường, lính biên phòng đồn 315 về gác cho dân, ôm tôi ngủ chung cho đỡ lạnh. Cường quê Hải Dương, mới ốm dậy từ một trận sốt rét không có thuốc tiêm, tưởng chết. Cường nhập ngũ cách đây 2 năm, bạn bè đưa ra bến xe biết đi Lai Châu đều khóc. Thế mà người lính ấy, trong câu chuyện xa quê, đã kể rằng, Tết miền xuôi năm nay không về dù đã được ra quân. Chưa chia tay mà đã nhớ thượng nguồn, thác ghềnh, sương gió và đá núi, nhớ những chủ nhân của ngã ba biên giới.

Sáng hôm sau tôi dậy sớm, ăn dăm miếng bánh cha le, giống như bánh bột lọc dưới xuôi, chấm mật mía cho đúng lệ đồng bào rồi tiếp tục cuộc hành trình đã định của mình.

Tôi đến bản Mù Cả khi trời vừa sụp tối. Người Mù Cả cũng hiếu khách như bất kỳ ở bản Hà Nhì nào khác – nhà dù đói rách đến đâu cũng có riêng một giường cho khách qua đường nghỉ lại. Khách đến bản vào nhà nào cũng được, có thể để ba lô ở nhà này, lại ăn cơm ở nhà kia. Tôi nghỉ nhà Toán Ma Tơ. Trong khi tôi vừa ngâm chân bằng nước nóng hoà muối và cao Sao Vàng vừa hỏi chủ nhà đủ thứ chuyện, thì vợ anh ngồi cặm cụi hong quần áo, giầy ướt cho khách trên bếp lửa. Ngày hôm sau sẽ rất mệt mỏi trên con đường chừng 30 cây số mà dân bản địa gọi là “đường ngựa đứt hơi”, tôi xin phép đi nghỉ sớm. Nửa đêm chợt tỉnh vì gió lạnh thổi sương luồn vào chăn mỏng, tôi nghe tiếng con gái Ma Tơ nói chuyện với một chàng trai trên giường ngay cạnh. Sẩm tối vào nhà, rõ ràng cô bé này chưa tròn 15 tuổi. Hoá ra con gái Hà Nhì yêu rất sớm, chuyện chăn gối với người mình yêu ngay tại nhà bố mẹ đẻ cũng tự nhiên như việc hít thở khí trời vậy. Nay có thể yêu người này, mai người khác không ai cấm, nhưng khi cưới nhau rồi thì phải chung thuỷ cho tới tận ngày nằm xuống đất. Khách đến, con gái chủ nhà ở trong buồng rũ chăn, rũ chiếu mà khách không “biết điều” vào ngủ cùng thì tối đó không có chăn mà đắp, sáng dậy không có cơm nắm mà mang đi đường. Vậy mà khi tôi ngồi nói chuyện, có tới ba cô mặc rất diện vào túm tay lôi đi, nói một tràng gì đó. Ma Tơ bảo, nó khen cán bộ đẹp trai, rủ ra đồi chụp ảnh. Tôi nhờ Ma Tơ nói lại rằng trời đầy sương thế này thì làm sao mà chụp được, với lại cán bộ đau như rụng mất chân rồi.

Ma Tơ đập tôi dậy thật sớm, bắt uống rượu thật nhiều: “Cán bộ uống cho ấm, đi cho đỡ mệt”. Quả thật đoạn đường từ Mù Cả đến Ma Ký dài 7 cây số chỉ đi mất gần hai giờ. Nhưng tan rượu thì lạnh thấu xương, khớp chân rã rời không tuân theo ý mình nữa. Qua Ma Ký chừng hai tiếng thì điều lo sợ nhất đã xảy ra. Hết một khe suối nhỏ, đường mòn chia thành sáu ngả. Ngồi đợi gần nửa giờ mà chẳng có ai qua để hỏi đường, tôi đánh liều đi vào một ngả, một lát thì hết lối. Đường thứ hai càng đi càng rậm rạp, thiếu dấu chân người. Có dăm nóc nhà sàn thấp thoáng, tôi đi cố đến để hỏi đường. Không một bóng người, cái bản ma quỷ này đã chết từ lâu trong sương gió. Lạc đường. Trời đầy mây mù, không còn biết đâu là phương hướng, tôi đã thành một thứ trò chơi của rừng già. Chưa bao giờ tôi có cảm giác cụ thể hơn về sự cô độc đến vậy. Tôi không dám đứng ở đó lâu, rẽ cỏ tìm dấu chân mình quay ngược trở lại, đoạn nào đi được thì đi, đoạn nào chạy được thì chạy, lộn về Mù Cả.

Dân bản cho hay, nếu tiếp tục đi xuyên qua cái bản hoang tàn đó ba giờ nữa sẽ sang đất Trung Quốc, còn con đường tôi cần đi cách ngã sáu chưa đầy 50 mét, nằm trên lưng chừng vách đá. Một lát sau tôi có khách đến thăm, đó là Vương Đình Châu, Phó đồn biên phòng 315 được một người lính đi kèm dìu đến. Anh Châu bị sốt rét đã ba ngày, người xanh rớt, từ bản Mù Sung gắng gượng chống gậy về được đến đây, thấy vết giầy lạ đoán là có khách dưới xuôi nên tìm xin thuốc cảm. Anh Châu bảo: “Em quay về đi, từ đây vào Apachải còn 70 cây số nữa, xuống sức em không đến nổi đâu”. Tôi nghĩ bốn ngày quay về còn ngại hơn, nên quyết định đi tiếp, rồi muốn ra sao thì ra. Tối anh Châu đi tìm khắp bản, có Vù Á Hoa ngày mai đi sâu vào Ma Ú, dặn đi dặn lại cho tôi được đi cùng.

Á Hoa dáng đi hơi cúi, người gầy nhỏ nhưng sẵn lòng mang hộ ba lô, có đoạn còn cõng qua suối, cởi giầy, bắt vắt cho tôi. Lòng tốt của anh lúc đầu khiến tôi ngờ vực. Tôi thử rút tiền gửi nhưng Á Hoa không lấy, cởi áo tặng không nhận, cho thuốc cảm không nghe. Mãi sau mới rõ Á Hoa nghiện suốt 8 năm, bị nhiều người xua đuổi. Còn tôi, người Kinh miền xuôi, chịu đi cùng, chịu nghe kể lại những đoạn đời này là một điều gì đó anh chưa bao giờ dám mơ tới. Á Hoa mời tôi vào nhà ăn cơm trưa bằng được, lụt cụt chạy xuống suối đánh cá, ra đồi đuổi gà làm cơm. Giữ tôi ở lại chờ ngày trăng tàn vào mỏ muối Mồ Pá Chù săn nai không được, Á Hoa mang ba lô tiễn tôi gần năm cây số. Á Hoa bắt tôi nhớ khi đi đến đoạn suối có rất nhiều cổ thụ, ong làm tổ thành từng đàn lớn thì đặt vào tảng đá ven hồ nhỏ hai điếu thuốc lào, và đi tiếp không được quay đầu nhìn lại. Gặng hỏi mãi Á Hoa mới kể rằng, đoạn suối đó có ma thiêng, trâu bò không dám lội, dù giông gió thế nào cũng không một chiếc lá rơi được vào mặt nước. Người xưa đến đây dựng bản kể lại, ngồi để tay ra sau lưng cầu xin còn được ma cho bát, cho nồi. Á Hoa tháo con dao găm có vỏ da rất đẹp đeo bên người tặng bạn để hộ thân. Chào nhau, Á Hoa khóc. Sau này mới biết thêm rằng, Á Hoa đã đóng một mảnh giấy vào thân cây ven đường mòn nhờ người qua lại, có ai gặp tôi thì gửi lời mời hẹn ngày quay lại uống thêm với anh vài bát rượu.

Càng vào sâu vùng ngã ba biến giới càng thấy nghèo đói. Trẻ con bản Gò Cứ thấy khách miền xuôi, trần truồng chạy theo đông như kiến. Bản Gò Cứ, theo cách nói của bà con, rẽ cá mới thấy nước, ra vườn hái rau không nhanh bằng xuống suối quăng chài, mà dân thiếu thốn đủ bề. Người Gò Cứ hầu hết mù chữ, không nói được tiếng Kinh – cả bản có 82 nóc nhà nhưng chỉ 9 hộ đủ ăn mùa giáp hạt. Lưỡi cày thiếu, dao phát nương cũng thiếu. Đã thế đêm nào lợn rừng cũng về hàng đàn hai, ba mươi con phá ngô, phá sắn. Lồ Ô Vô mới 32 tuổi đầu mà có tới 10 con, vợ quanh năm chỉ nằm ở nhà mà đẻ. Sốt rét triền miên, mỗi lần cử người về PácMa xin thuốc chỉ được 30 viên đựng không đầy một bát, cả bản dành dụm bẻ đôi chia nhau cũng không đủ. Trưởng bản Pờ O Xá người như ma rừng, quần áo rách phải buộc túm bằng lạt, nửa đêm còn làm thịt một con chó ba cân đãi khách. Anh Xá lo rằng một năm nữa Gò Cứ sẽ không còn người có trình độ lớp năm, đi họp ở xã biết ghi cái chữ ra giấy về phổ biến lại cho bà con, thay anh làm trưởng bản. Lời nguyền “người Hà Nhì lội qua suối bị lừa ăn mất chữ” đến giờ vẫn còn dai dẳng. Trẻ con giỏi lắm chỉ hết lớp 2, muốn học tiếp phải về Mù Cả theo con đường “ngựa đứt hơi” đến người lớn còn phải đi mất 9 tiếng, sao đi nổi? Người ta quên mất những bản làng heo hút này, hay không làm gì nổi? Nghỉ dừng chân ở nhà nào, dù chỉ uống một bát nước đun sôi, tôi cũng vờ để quên một cái gì đó: áo mưa, đèn pin, dao cạo râu, bật lửa… Một chút cũng có thể giúp họ đỡ nhọc nhằn.

Từ Gò Cứ lên Sen Thượng, người ở đây gọi là “con đường khỉ”. Đường dài gần 20 km dọc suối, bám vách đá bên này chán lại lội sang bám vách đá bên kia. Suối Mophí có chỗ lội sâu ngang bụng, nước lạnh buốt xương, lính biên phòng vào nhập ngũ dân bản phải túm thắt lưng dắt đi từng bước một. Lội Mophí, đã ngã là chết, đầu gối va vào đá sẽ không đứng lên được nữa, cứ thế bị nước cuốn trôi. Trước ngày tôi đi hai tuần, một thiếu nữ Apachải đội muối bị nước cuốn, dân bản vừa khóc vừa đuổi theo tìm xác suốt 7 ngày trời mới thấy. Đó không phải là xác nữa mà là một cái túi da người lổn nhổn xương vụn vì ghềnh thác, tóc rối bời vì nước xoáy.

Trên những doi cát dài bốc hơi ngùn ngụt trong nắng trưa, thỉnh thoảng lại xuất hiện những dấu chân hươu to như miệng bát. Cá suối đuôi đỏ như lửa nghe tiếng chân người, chạy bắn nước. Trong những vực sâu, vẫn còn những con to như đứa trẻ, muốn bắt phải dùng sào đuổi ra dòng cạn rồi dùng súng bắn. Những con rắn đen, trắng nhỏ như chiếc đũa cuộn mình ngủ ngon lành trong các hốc đá, mặc người đi lại, những vạt cỏ gianh dài hai, ba trăm mét muốn vượt qua không phải là đi, mà là chui, lá sắc cào rách bất kỳ phần cơ thể nào lộ ra ngoài quần áo. “Năm nay mưa nhiều cỏ rậm, rồi hai tháng nữa lửa rừng sẽ lại cháy suốt đêm thôi” – người Sen Thượng nhìn trời bảo thế.

Bản Sen Thượng đón chào tôi bằng hai cô gái trần truồng tắm suối, té nước líu lo rủ cán bộ xuống tắm cùng. Một cô chạy lên bờ chả ngại ngùng gì: “Cán bộ ơi, cho A Nhí xin một ít xà phòng thơm đi”. A Nhí đợi tôi cho xà phòng mỏi cả chân trần. Chủ tịch HĐND xã Xín Thầu – Chu Xế Chừ, tiếp khách lạ mà như đón bạn cố tri, mời thịt gà rừng, cá pàxì, tối đến tự tay anh đem cao trăn nướng trên than hồng hoà rượu. Sau ngày chiến tranh biên giới, đã gần 20 năm rồi không có nhà báo dưới xuôi vào Sen Thượng. Đó là một lý do và anh cũng có cho riêng mình một lý do nữa. Anh đã từng là một người lính cụ Hồ về quê nhà và không đi đâu thêm được nữa. Xế Chừ coi tôi là một dịp may chưa từng có, có thể đem giùm anh lá thư về Hà Nội cho người bạn một thời điếu thuốc hút chung trên đường hành quân. Khi bà con nghe tin nhà báo về bản kéo đến chật nhà, kể biết bao chuyện buồn vui đã về hết, tôi chứng kiến Xế Chừ ngồi chong đèn, mắt ướt viết thư cho bạn. Sen Thượng xa lắm Hà Nội ơi. Thế mà còn phải một ngày dầm mình trong suối lạnh suốt đoạn đường 24 cây số nữa mới đến được Apachải.

Sáu giờ chiều, trước mặt tôi là Apachải, là bản cực Tây của Tổ quốc, của giống nòi tự do, nơi một con gà gáy ba nước nghe tiếng. Tôi dựa lưng vào vách núi ngắm nhìn ước mơ nhỏ từ thời cấp 3 của mình, nhận thấy đã hoàn toàn kiệt sức. Chấn thuỷ rất đau vì gan phải làm việc liên tục, uống rượu quá nhiều, không đêm nào dám ngủ đẫy giấc, không đỉnh đèo nào dám ngồi nghỉ quá lâu. Chuyến đi dài mà dân trong làng báo vẫn gọi là “conscience tour – chuyến đi của lương tâm” đã tới được nơi cần đến.

Còn có nơi nào xa xôi hơn Apachải? Một bát muối mang lên được đến đây giá 12.000đ, gia đình nào trong bản có người tật bệnh mà quân y đồn 405 không cứu nổi, có nghĩa là chết. Dân Apachải trồng được lúa, nuôi được trâu, rau trồng ra để cho già chết đi mà không bán đi đâu được, không làm sao giàu có nổi. Năm 1982, thấy dân cõng một tấn lúa nhọc nhằn ra được đến huyện đổi muối, đổi dầu không bằng xách một cân thuốc phiện, một số vị lãnh đạo đã xót ruột, cho trồng thuốc phiện. Chỉ một mùa rẫy, hoa anh túc nở bạt ngàn trên các sườn đồi. Đó là thảm hoạ đến nay còn đeo đẳng. Có người hút mười lăm, hai mươi năm, nằm bẹp trong nhà, ôi thiu quần áo, chưa bao giờ sờ tay đến cái cày, cái cuốc. Có người bỏ sang Lào đi ở để được hút cho thoải mái, 6 tháng trời mà hút hết 38 lạng. Đầu năm, trạm biên phòng đi một buổi chiều thu được 70 bàn đèn thuốc phiện. Đến từng nhà vận động đi cai thì dân oán. Nghiện nặng nhất bản là vợ chồng Vàng Lá Lụ – Pờ Xà Mé – mà người mẹ của 8 đứa con này thời thiếu nữ đi cắt cỏ gianh còn vật ngã được cả thanh niên, nay tàn tạ như con ma rừng. Bộ đội khuyên can gẫy lưỡi cũng không chịu. Giờ đã đỡ hơn nhiều, cha đã về với con, chồng đã về với vợ, đi đâu cũng tươi tỉnh hát hò, gặp bộ đội ở đâu là chào hỏi.

Sống vắt vẻo trên những sườn non cao như người Mông, nhưng người Hà Nhì luôn quần cư ở những nơi thuận tiện với phương thức canh tác của mình. Đồng bào ở nhà đất có tường trình chắc chắn dày 30-40cm chống sương gió lạnh. Nhà ở vùng Y Tí, A Lú (Bát Xát – Lào Cai) tường cao đến 3-4m, mái dốc, ngắn, không hiên và chỉ có một cửa ra vào. Bên trong lại dựng thêm một lần tường có tác dụng phòng thủ và hỗ trợ chống rét. Lớp tường ngoài và tường trong cách nhau chừng 1m50, tạo nên khoảng trống gọi là hiên trong. Ở bức tường thứ hai mở một hoặc hai cửa để vào nhà. Hai gian ở hai đầu được ngăn thành hai buồng riêng cho vợ chồng chủ gia đình và con cái. Khoảng 1/3 chiều rộng của hai gian giữa là phần đất, còn lại được dựng thành sàn. Phần đất có bếp lò nấu cơm, cám lợn, có chạn bát. Phần sàn là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi ngủ của con gái, khách đến chơi nhà. Trên sàn có bếp lửa cháy suốt ngày đêm. Nhà người Hà Nhì ở ngã ba biên giới lại có tường và mái thấp hơn với hàng hiên phía trước, nhà chỉ có một tường, thường chia ba gian, độ rộng dài tuỳ theo sức người, sức của. Rất nhiều kiểu nhà được xây dựng ở Apachải với vật liệu, kiến trúc khác nhau mà tôi chưa từng gặp trong suốt dải hành trình. Có nhà dựng hai lầu, lầu trên mở cửa bốn hướng, lại là nơi sinh hoạt chính của cả gia đình được dựng bởi thợ xây từ bên kia biên giới sang làm giúp – kiểu kiến trúc giao thoa của rất nhiều dân tộc anh em chỉ có ở bản cực Tây của Tổ quốc này.
40 giờ ở Apachải đủ để tôi tìm thấy vóc dáng can trường và tình nghĩa người ngã ba biên giới. Chủ tịch xã Pờ Dần Sinh vai đeo đài pin đưa tôi đi thăm thú khắp nơi. Anh có một thân hình hoàn hảo làm người ta kinh ngạc và một ước mơ cũng làm người ta không quên được: “Một ngày nào đó, mảnh đất này sẽ là… thành phố Apachải”. Nhưng trước hết Pờ Dần Sinh mong mỏi một con đường để người ngựa có thể chở lúa, dắt trâu đi lại suốt ngày đêm.

Ở Apachải không ai không biết đến “hai con hổ xám” của một thời: Pờ Xí Tài và Tô Minh Điến. Pờ Xí Tài cao tới gần mét tám, ngày còn trai trẻ sức vật trâu ngã, một mình một súng trận, một ngựa chiến suốt 10 năm rong ruổi, ngủ tai phải thức tai trái tiễu phỉ, gọi hàng. Tô Minh Điến là trưởng đồn biên phòng, sống 26 năm với bà con Apachải. Tôi vào thăm Pờ Xí Tài. Huyền thoại một thời bây giờ ngồi suốt ngày trên ghế mây giữa nhà, vì bệnh tật. Năm ngoái Pờ Xí Tài tự mình đi đánh bẫy gấu lớn, mổ ngay lấy mật nuốt sống mà bệnh cũng không đỡ được là bao. Thích nhất là nghe Pờ Xí Tài kể chuyện các chuyến săn. Có chuyến đi rình hổ dữ thì gặp nó đang rình lại mình trong rừng sạt. Con hổ dữ gầm lớn rồi quật đuôi chồm tới. Pờ Xí Tài giật bắn mình ngã ngửa ra sau, theo phản xạ thả bừa một loạt liên thanh. Con hổ thành tinh khiến dân Apachải phải đi sơ tán đổ vật xuống người Pờ Xí Tài như một cây gỗ nặng. Hôm tôi đến, hổ dữ lại về Apachải, người ta thấy vết chân nó ngang ngược dẫm cả vào những lối mòn xung quanh bản. Tôi theo dõi Pờ Xí Tài lồng lộn khi nghe tin báo có tiếng gầm của hổ chỉ cách bản một giờ đường, vào buồng lôi cây súng của ông chỉ dành riêng để bắn thám báo và ác thú, vuốt ve mãi cái nòng thép xanh biếc có lỗ toả nhiệt mà thở dài bất lực. Không ai bảo vệ nổi người Apachải trước thiên nhiên hoang dại, ngoại trừ chính họ. Còn Tô Minh Điến là một quân nhân quê ở Thái Bình, biệt kích từng treo giải rất hậu cho ai chặt được đầu ông. Tô Minh Điến ra quân từ năm 1988, suốt từ đó đến nay không quay trở lại. Người ở đây nghe tin dữ rằng, Tô Minh Điến ở quê thấy côn đồ hành hung hàng xóm bước ra can, bị dao xuyên qua người thiệt mạng. Cả Apachải làm ma cho Tô Minh Điến. Có nhà báo lên đây họ mừng lắm. Trong cuộc rượu uống với thịt nai tươi vừa bắn được khi chiều, già Chang Vang Sinh, chú Sừng Khai nhờ tôi về xuôi hỏi lại tin của Tô Minh Điến. Nếu gặp được ông thì nhắn là già Sừng Là Vù đã mất rồi, gửi lời bà con mời ông lên chơi, lên say. Người ta không tin một người như Tô Minh Điến lại có thể sớm qua đời như vậy được. Chiến tranh đã lùi xa, Pờ Xí Tài và Tô Minh Điến, hai hảo hán huyền thoại của ngã ba biên giới đang dần đi vào ký ức. Bây giờ, ai giàu có, ai học hành nên người ở Apachải sẽ là những huyền thoại mới. Nhưng biết đến bao giờ mới có, khi những đứa trẻ Apachải quần áo không có mà mặc, muối không có mà ăn, suốt ngày nô đùa trong phân trâu, bò tù đọng?

Tôi ở hai đêm với những người lính trấn giữ cửa khẩu quốc gia Apachải, những người ba, bốn năm trời không thấy một bóng phụ nữ mặc quần hai ống; những người nghỉ phép một tháng mà không dám về quê vì đường dài đi không kịp. Không có sức mà chuyển lương, tám người lính Apachải phải tự đục đẽo cày bừa làm tất tật để nuôi mình. Apachải là nơi những lá thư nhà hai tháng mới gửi lên được đến nơi, có người vợ giận chồng: “Mẹ đang ốm, con đang ốm, em trăm lần xin anh, ngàn lần xin anh mau gửi tiền về cho mẹ, cho con”. Không có người về từ Apachải thì xót lòng bao nhiêu cũng đành phải chịu.

Chia tay, có đêm mất ngủ ở Apachải của những người lính nhớ nhà, có rượu mật ong, cao sơn dương, hổ cốt, rượu lục phủ ngũ tạng hổ bà con mời uống để tôi đủ sức trở về. Già Chang Vang Sinh gọi tôi qua nhà bảo: “Con à, ata đặt cho con một cái tên để ở trên này bà con dễ gọi. Chang là họ của ata, Hừ Giá là to, là nhanh nhẹn. Ata đặt cho con tên này để về sau con còn về uống rượu với ata. Có trở lại không con?”. Tôi cúi đầu. Từ xưa đến nay, người đã ra đi chưa ai một lần quay lại Apachải. Còn tôi, lời thề khi đi lạc rừng vừa đói vừa khát ở Ma Ký – đến bằng được để không bao giờ quay lại Apachải – bây giờ tan thành nước. Tôi đã là người Hà Nhì, là con của ngã ba biên giới. Có thể hàng chục năm nữa, một khách lữ thứ ghé thăm Apachải, sẽ vẫn được nghe những câu hỏi ngây thơ đau xé ruột gan: “Từ đây về Hà Nội có xa đến một tỉ cây số không con? Có phải người Liên Xô biết bay cả rồi phải không cán bộ?”. Nhưng anh ta có thể sẽ được nghe kể thêm về một nhà báo đã một mình lặn lội lên đây, đã được là máu thịt của Apachải. Người ấy tên là Chang Hừ Giá. Người ấy không làm được gì cho những cuộc đời tăm tối và ngay cả những dòng chữ như chắt từ nỗi xót đau của người ấy cũng không biết bao giờ mới đến được với Apachải. Với người ấy, một lần nữa quay lại với Gò Cứ, Sen Thượng, Tả Long San, Lỳ Mà Tá, Apachải… không còn là “conscience tour”, mà chỉ giản đơn hai chữ: Trở về.



(Nguồn: Lấy trên blog của Huy Minh và cũng là một phần trong tập phóng sự "Kimono trong rừng thẳm" của Huy Minh - NXB Văn học 2010)