Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

C.I.A. VÀ CÁC NHÀ TRI THỨC (tiếp)

Đối với phe đối nghịch-ta hãy tạm gọi là cánh Hữu như vậy, với tất cả những gì dè dặt cần thiết-những quan điểm trên, tử tế nhất có vẻ ấu trĩ và giả nhân giả nghĩa, dựa trên một sự hiểu biết quá ngây thơ về bản chất con người, không đếm xỉa tới những sự kiện khó khăn của đời sống thực tiễn và thế lực chính trị. Mà tệ hơn cả, thì những quan điểm đó có mùi âm mưu khuynh đảo phá hoại, có lẽ có mùi cách mạng nữa, và như thế cũng rất có thể khoác cái tình chất dân chủ cấp tiến Jacobin lãng mạn, mà hình thức mới nhất lẽ cố nhiên là chủ nghĩa Stalin. Lại cũng đối với cánh Hữu, thì trong hệ thống Mỹ có những khuyết điểm nghiêm trọng, nhưng nó không phải là những vấn đề có thực chất-những vấn đề trong phạm vi ý chí của quốc dân, ấy là nói như vậy-mà là những vấn đề lệch lạc kỹ thuật mà thôi. Đây chỉ là vấn đề thu thập những thống kê đúng, tìm ra và xử dụng những cần-điều-khiển đúng để cho bộ máy có thể điều hành trơn tru êm ái, các vòm trời thanh quang trở lại, các giòng nước tươi mát hơn, và một ngày nào đó một ông da đên có thể trở thành Chủ tịch Công ty điện thoại, và Điện tín Mỹ AT&T.

Trong khi chờ đợi thì vấn đề lớn, thiên hạ cho ta hay, không nằm trong ý muốn của quốc gia mà ở trong tim óc của người châu Á và châu Phi, tức là những người cần phải được cứu vớt khỏi chủ nghĩa Cộng sản và như thế khỏ lỡ dịp mua sắm và sinh sống trong cái trung tâm thương mại vĩ đại mà Mỹ quốc đương xây dựng cho thế giới-mặc dầu làm thế nào họ có khả năng trả giá được thật quá khó hiểu. Đối với cánh Hữu, thì bóng ma của Stalin dầu đã thành tro tàn trong nấm mồ tăm tối, vẫn còn sống động hơn cả cái bạt mạng ngày một kiêu căng phách lối và lớn rộng thêm mãi, bằng xương bằng thịt, của nước Mỹ và cái chủ trương bành trướng, tức là chủ trương theo quan điểm bình thường của con người, vào đầu những năm 60, đã đi đến chỗ có vẻ như cưỡng chế, bị ám ảnh, điên khùng và bắt đầu làm cho không phải chỉ một số lớn người Mỹ, nhất là những người trẻ, mà còn hằng hà sa số những người khác trên thế giới nữa, phải ghê tởm.

Thất vọng với những người bạnh lầm lạc cánh Hữu này đôi khi người ta hình dung một bức họa về những lý do thầm kín thúc đẩy họ, trong bức tranh ấy, đối với những người này, cài biến cố tột điểm trong lịch sử Mỹ quốc, cải chứng cớ hiển nhiêm của Ý Trời, cái biện minh đầy đủ cho tội lỗi cha ông họ, chính là cái bước hiển đạt của họ, từ những vỉa hè Nữu-ước và Chicago, tới những vị trí thâu dụng trong những đại học được kính trọng, tới những ghế diễn giảng lừng lẫy và những lời mời dự tiệc và khiêu vũ tại Tòa Nhà trắng. Thật là dễ hiểu tại sao từ đó lại thoát ra cái niềm tin tưởng sắt đá rằng bất cứ một toan tính nhừmg thay đổi hoặc phê bình hệ thống Mỹ một cách triệt để nào đều liên kết với những sức mạnh đen tối. Và bới đó mới có được cái “chónh nghĩa” trong một cuộc thánh chiến chống những tay Anabaptist (4) và những kẻ lãng mạn khác của cánh Tả, và có cái nghĩa lý trng lời rêu rao rằng mọi ý thức hệ đối nghịch là vô nghĩa, rằng rốt cuộc ý thức hệ đã nhường chỗ cho sự thật.

Tôi thường hết sức ngạc nhiên và thắc mắc không hiểu tại sao những người bạn của tôi bên cánh Hữu, những người có lập trường như thế, lại không nhìn nhận, và bởi đó chắc chắn đã không cảm thấy, cái phân tích giữa ý thức riêng tư của họ về trật tự với sự hỗn loạn và xấ xa kệch cỡm to lớn của đời sồng Mỹ, cái phân tích đã khiến ta phải hãi hùng ghê rợn và dễ dàng hiểu được Tổng thống Jefferson đã phải run sợ cho quê hương ông như thế nòa khi ông coi Thượng đế là công chính. Có thể nào sự phân biệt mà tôi đương cố gắng vạch ra giữa những nét hí họa đối nghịch về phe Tả cũng như phe Hữu này rốt cuộc lại không phải là một vấn đề nguyên tắc mà chỉ là một lối cảm kích được sao? Phải chăng đó là một nhược điểm trong tôi khi tôi quá dễ phẫn nội vì những cái lỗi hoàn toàn có thể sữa chữa được trên thế giới này nếu tôi biết kiên nhẫn? Tự mãn trước những lỗi lầm mà chúng ta đã phải sống với khá lâu phải chăng là cái yếu kém của họ? Đây là câu hỏi tiểu tiết không đáng kể. Tuy nhiên vẫn còn lại cái độc ác của chủ trương Stalin kia, cái chủ trương dường như đã bào chữa cho chủ nghĩa McCarthy, và vẫn còn cuộc chiến tranh ở Á-Châu, cuộc chiến tranh mà một người bạn tôi đã từng bênh vực với lập luận rằng đây là cách thế duy nhất để cứu vớt các bạn tri thức của chúng ta ở Bombay và Delhi, nếu không chắc chắn họ sẽ bị thanh trừng trong một cuộc xâm lăng ào ạt của Cộng sản. Thế nhưng chưa có ai động tới bất cứ một người trí thức Ấn độ nào mà tôi được biết và hiện chúng ta vẫn tiếp tục sát hại biết bao gia đình VN. Có lẽ đây cũng là một vấn đề cảm kích, nhưng nếu quả thế thì tất cả mọi vấn đề khác cũng đều như vậy mà thôi.

Thế nhưng, nói gì về CIA và cái chuyến tầu biệt đãi ngay lúc này đây đương tiếp nhận một số hành khách và bỏ lại một số khác đây. Lúc này hẳn đã rõ là dầu vai trò của CIA có là gì đi nữa, đó nhất định chẳng phải là vai trò của chính phạm cho bằng vai trò của một kẻ tòng phạm, xét theo sự kiện xảy ra. Phe Hữu mà tôi đã cố gắng mô tả không cần bị mua chuộc. Nó chỉ cần người ta hỗ trợ nó trong cái mà nó tin tưởng chắc chắn là một công cuộc đạo đức và cần thiết kia. Việc nó có thể du lịch đây đó một cách xa hoa hào phóng trong lúc bênh vực quyền lợi của loài người là một việc có càng tốt, thế nhưng nếu phải hoạt động từ một hầm rượu ở đường Bleecker đi nữa, những tay Hữu phái ấy chắc chắn cũng vẫn tiếp tục những tin tưởng sắt đá kia. Mà hay là thôi, không tiếp tục nữa? Không lẽ, với chứng cớ là tất cả những chiếc xe hòm bóng lộn của nhà nước, những ghế diễn giảng, những khoảng tài trợ và bao nhiêu món chi phí khác, mà lại chẳng có lấy một ông nào tin tưởng rằng cái lựa chọn của mình là đúng, đúng theo nghĩa tiền định của Calvin hay sao?

Không phải sự thành công trong xã hội này là một điều khá thẳng thắn và còn là dấu hiệu của một sự hòa hợp lớn hơn giữa mình, dân tộc và vũ trụ như một toàn thể đó sao? Có một thứ tự mãn nào đó phát sinh từ việc thành đạt hoặc nếu không cũng tà việc đã có được những dấu hiệu thành công mà, theo chỗ tôi đoán, cả đến thánh Francois, Thoreau hoặc Allen Ginsberg tự thâm tâm cũng không thể hòan toàn tránh khỏi. Tuy nhiên, chắc chắn là có những kẻ dễ bị ảnh hưởng vì sự lừa phỉnh do những của cải và vinh dự trần thế đem lại hơn những người khác, và bởi đó những kẻ ấy sẽ cãi rằng cái xã hội cung cấp cho họ những thức đó nhất định phải là một xã hội công bằng và hơn nữa nếu thế giới chịu khó kiên nhẫn và xử sự cho đúng cách thì những cái lợi kia sẽ tràn lan khắp cả, đó chỉ là vấn đề thời gian mà thội... Bởi đó không lạ gì chính những người bạn tin theo như vậy của tôi là những người được CIA và các cơ quan cộng tác với nó hỗ trợ mạn mẽ nhất và nhiều khi họ cũng không biết chắc là sự hỗ trợ từ đâu mà tới nữa. Cố nhiên nói như vậy là diễn tả một cách quá sống sượng và có lẽ sẽ không công bằng lắm. Tuy nhiên, tôi chắc chắn là Allen Ginsberg đã bỏ tiền túi đi Ấn độ, Phiip Rahv và Irving Howe, ấy chỉ kể tên hai người, không có đi đâu bao giờ, và CIA, Quỹ Ford, Bộ Ngoại giao chẳng có chỗ nào hỗ trợ những cuộc biểu dương ở Berkeley cả. Chỉ có những tay all rightniks (O.K., O.K...), ấy là dùng một từ ngữ mà các nhà trí thức của những năm 50 ưa dùng, mới lãnh phần lớn những vụ du lịch mắc tiền thôi.

Nói cách khác, có một sự chia sẻ quyền lợi và tin tưởng thật sự giữa những kẻ bao thầu chính sách đối ngoại chiến tranh lạnh của Mỹ và những người trí thức, cứ nói trắng ngay ra, được thêu mướn để thi hành những công tác thường thường, rút cuộc, lại là một hình thức giao tế hỗ trợ những chính sách chiến tranh lạnh của Mỹ.

Việc có thể có sự ngay tình về phía một số lao công và mưu mô gian xảo do cảm hứng ái quốc về phía các chủ nhân ông của bọn họ lại là một việc khác. Chắc chắn là có nhiều nhà trí thức, nhiều nhà văn, nhiều học giả, nhất là trong số những người châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh không có ý niệm gì về việc họ đương lao vào, những dẫu sao họ cũng dễ xiêu lòng trước sự mê hoặc của tiền Mỹ như bất cứ ai trên trái đất này, nhất là từ những khu vực giới hạn nghèo khổ. Mặc dầu có nhiều người trong số này chắc chắn đã bối rối buồn phiền khi biết được rằng tiền bạc tài trợ kia là của CIA chứ không phải là của những nguồn gốc có vẻ hợp pháp nọ, nhưng có lẽ cũng có những kẻ khác lý luận rằng một đô-la là một đô-la, từ đâu tới mặc kệ. Việc những vấn nạn như vậy không bật ra, ít nhất là trong những năm 50, nhất định có liên quan tới sự kiện là chỉ có một dúm nhỏ những người được trực tiếp dính với bộ máy bí mật kia và bởi đó mới có thể biết rõ ngọn nguồn thật sự của các ngân khoản. Thêm nữa, có nhiều dự án được tài trợ bởi Tổ hợp-tức là chỗ cấu kết nửa kín nửa hở của những Quỹ tài trợ hợp pháp, cơ quan gián điệp CIA và Bộ Ngoại giao-khá đặc biệt và có ích, dù do ai bảo trợ, bởi thế mà người ta không muốn thấy những dự án ấy bị hủy bỏ mặc dù đã có những tiếng đồn ngày càng lan rộng. Không phải là vì việc duy trì các tạp chí, các buổi hội thảo, các vũ đoàn vũ khuc.. là quan trọng mà thôi, mà còn vì, ít ra là trong những năm 50, người ta cũng đã có thể lý luận rằng quyền lợi Mỹ lúc ấy không đáng – hoặc có vẻ như không đảng – đặt thành vấn đề như từ bấy đến nay.

*

Tuy vậy, cũng với những năm 60, đã nẩy nở một nỗi bất an khó chịu mạnh mẽ và, với cuộc chiến ở VN ngày càng dã man, tàn bạo, một sự tởm gớm tăng thêm mãi. Đúng những tạp chí ở nước ngoài mà tổ hợp tiếp tục tài trợ, lúc này phần chính yếu là qua những cơ quan công khai, vẫn còn những lúc lừng lẫy, đặc biệt là trong những phân văn nghệ. (1) Tuy nhiên người ta thất vọng khi nhơ tới, trên những trang chính trị của các tờ báo ấy, có quá nhiều tiếng thở dài não nuột về tình hình ở Ba-lan va quá ít điều nói về những chế độ tài được Mỹ ủng hộ ở chây Mỹ La-tinh, hoặc về vấn đề người da đen, hoặc những lời phản kháng trên khắp thế giới và cuộc chiến tranh của chúng ta ở VN. Sự thật buồn thảm là cái ngạch trí thức được đặt vào những vị thế cao trong báo giới và các lãnh vực văn hóa khác một cách độc đoán bằng phương tiện tài trợ của Mỹ, không bao giờ, do kết quả của sự bảo trợ này, được hoàn toàn tự do. Những cái giới hạn những người trí thức đó không phải là một cái đơn giản như sự cưỡng bách, mặc dầu có thể có sự cưỡng bách ở một vài cấp nào đó, mà một cái gì hơn thế nữa giống như những mối liên hệ không tài nào tránh được giữa ông chủ và kẻ làm công, trong đõ những ước muốn của người trước tàng ản trong những hành động của kẻ sau.

Lại nói về các chủ nhân ông –tức là những kẻ trực thuộc bộ máy bí mật kia – có nhiều người có lẽ cũng không tệ gì hơn mấy tay đầy tham vọng, nếu không đáng khen thì cũng dễ hiểu, đã ưng lựa cái công việc phiêu lưu đó hơn những cơ hội ở đại học hoặc thương trường đương chờ đợi họ trong một nền kinh tế bình thường của thế giới không kiềm tỏa. Những lý do thúc đầy những tay trong, khác rất có thể là lý tưởng hơn, mặc dù hồi tưởng lại quá khức, ta hẳn phải đau đớn lắm khi chiêm ngưỡng cái ngay thật trong trắng đã tưng có thể hỗ trợ cho cái thứ lý tưởng như vậy. Thế nhưng, dầu cho những lý do thúc đẩy họ là gì đi nữa, cách thể xử sự của họ đã gây ra một thứ hiệu quả nó ăn sâu hơn cả cái ngả nghiêng của những điều cam kết có tính cách chính trị của họ. Khi gia nhập bộ máy bí mật, những tay trong này không còn để cho mình được lựa chọn gì khác hơn là nói dối các đồng nghiệp – bạn bè họ - về những vấn đề hết sức quan hệ tới cá nhân mình, ấy là: Ai thêu tôi và quyền lợi của kẻ đó là gì? Và như thế, những tổ chức mạnh dạn phụng sự cho tự do văn hóa và theo đuổi sự thật đã xây dựng trên những lời dối trá. Muốn hiểu cái bi thảm của tình cảnh này ta cần phải nhớ lại những ngày của các trận Cộng sản và cái không khí bội phản của chúng, trong đó các quyền lợi của bộ máy thường xuyên thay thế cho cái tình liên đới giữa cá nhân, cái hồn nhiên thẳng thắn giản dị, và cái danh dự thông thường. Đối với một số những kẻ làm công này, việc khám phá ra rằng xưa rầy mình đã làm việc cho CIA, đã bị chúng bạn và đồng nghiệp nói dốivà do đó đã bị chúng gạt đền chỗ đánh lừa người khác, hẳn là thật sự không sao chịu nổi, nhất là đối với những kẻ có thể đã có những kinh nghiệm tương tự một thế hệ trước liên hệ tới chủ nghĩa Cộng sản.

Vào những năm 60 thì phần lớn những kẻ thụ hưởng của tổ hợp đã nghi ngờ, nếu không nhất thiết là đã nhìn nhận với chính mình, rằng những tay chủ ngân hàng và luật gia, những tay Dulles va McCloy và bọn đại diện họ, tức là những kẻ đã dựng nên và điều hành tổ hợp, không hành động vì lòng yêu mến trí thức một cách vô vị lợi và những quan điểm thẩm mỹ sâu xa thúc đẩy: thay vì thế họ chỉ quan tâm đến việc bảo vệ và bành trướng thế lực Mỹ. Rốt cuộc người ta thấy rõ là các nhà trí thức đã trả một cái giá quá dở, và không bao giờ có thể làm lợi cho nghệ thuật hoặc văn chương, bất cứ thứ tư tưởng đứng đắn nào hoặc ngay cho chính nhân laọi nữa khi phục vụ cho ý muốn của bất cứ quốc gia nào. Nhiều người trong số đó lúc này đã bắt đầu thu xếp cho mình những công việc khác. Đa số có lẽ đã ra đi vào lúc mà CIA thi hành cái đề nghị mới đây là từ rầy sắp tới nó sẽ công khai tiếp tục các chương trình văn hóa của nó. Dẫu đa làm cho khổ cách mấy, sự bí mật trước kia, nói cho cùng, cũng đã là cần thiết, nếu chúng ta biết được cái khối lượng thực tế có giới hạn mà những người giỏi giang nhất có thể chịu đựng được.

*

Tình thế trong những năm 50, với cái không khí bí mật bao trùm, hứa hẹn những phản bộ bất thần và những lời tố cáo ngược lại tiếp theo, có vẻ như một cái gì tương tự như cái tình thế của các nhà khoa học đã đưa kế hoạch chế tạo bơm cho Roosevelt với hy vọng cao cả là sẽ tiêu diệt Hitle trước khi hắn tiêu diệt ta. Ai có thể nói rằng đáng lẽ mấy nhà khoa học chẳng bao giờ nên tiến hành công việc đó? Nhưng có ai bây giờ lại chẳng mong ước: giá họ dừng bao giờ khỏi sự? Tuy nhiên lúc này, ấy có vẻ như đã không thể nào tránh được và cái thiệt hại kia giờ thì không còn có thể gỡ lại được nữa. Có lẽ có một thứ cạm bẫy tất nhiên nào đó trong mọi công việc của con người ta, bởi đó mà trí thức, dầy ý muốn có trong sạch tới đâu chăng nữa, rốt cuộc, bao giờ cũng lại phải thấy mình ở dưới quyền xử dụng của những thế lực có tổ chức chặt chẽ hơn, nếu không thích hợp được thì cũng lâu đủ đề phải hối tiếc mối liên hệ.

Trong hai phe trí thức mà tôi đã cố gắng mô tử thì một phe lúc này đương bị ám ảnh vì cái khối đen tối bao trùm nước Mỹ hiện tại. Tuy nhiên vẫn còn có những kẻ khác, hăng say bênh vực cho đế quốc va bận bịu với những kế hoạch cho năm 2000 của triều đại nó, những kẻ mà ta có thể nói trước là được các quỹ lớn và các cơ quan của chính quyền tài trợ trong công việc của họ. Những gì mà họ đương làm dường như vạch ra, qua những cuộc phân tích được tính toán công phu, một tương lai Mỹ, một tương lai bao gồm cài hỗn loạn và tuyệt vọng hiện tại của ta ở mức tổi thiểu và, có lẽ do tình cờ, không dành một chỗ nào cho cải tư tưởng giải thoát cảu Mác là muốn cải tạo thế giới thời ta cần phải làm một cái gì mới từ cái trật tự cũ. Bị huyễn diệu bởi cái hiệu lực của doanh nghiệp Mỹ và quên mất rằng cái hiệu lực này, trong tình trạng hiện nay, cốt yếu chỉ nhắm tới việc sinh lời, bất kể có thiệt hại gì cho những công cuộc sắp xếp xã hội hợp lý và sản xuất hữu ích, những nhà tư tưởng này hình như cảm thấy rằng trong phạm vi cơ cấu hiện tại của xã hội Mỹ, có thể tìm ra được những nguyên tắc cũng như ý chí để từ đó xây dựng cái hạnh phúc tương lai của nhân loại. Tất nhiên là bây giờ có nhiều người, và không phải chỉ nguyên ởMỹ, không đồng ý kiến với họ. Mơ hồ người ta bắt đầu cảm thấy những lý lẽ ngày trước lại đương thành hình giữa những kẻ đề xướng một tương lai rực rỡ dựa trên thế lực và thiện chí của Mỹ - kỳ vọng thực hiện của mấy người ấy lúc này có vẻ viển vông hơn bao giờ - và những người khác, những người có lý do để lo ngại một thế lực như thế và hoài nghi cái thiện chí của nó, những người lúc này dường như đương chiếm những vị trí, không phải chỉ ở bên trái những kẻ kia mà còn bao quanh những kẻ đó từ khắp mọi phía nữa.

JASON ESTEIN

Diễm Châu dịch

(The New York Reviw of Books, Bộ VIII, số 7 ra ngày 20-4-1967.)

Tác giả bài này, Jason Epstein, là Phó chủ tịch nhà xuất bản Mỹ Random House.

Chú thích

(1) ở trang 2: John McCloy, người trước kia là Cao Ủy Mỹ tại Đức, sau này trở thành chủ tịch Quỹ Ford John Forter Dulles và sau này là Dean Rusk đi từ ghế chủ tịch Quỹ Rockefeller để trở thành Ngoại trưởng. Khi McGeorge Bundy quyết định rời Tòa Nhà Trắng, nơi ông đã làm Phụ tá đặc biệt cho Tổng thống phụ trách An ninh Quốc gia, nghĩa là trông coi luôn CIA trong số những trách vụ khác, McCloy liền thêu ông điều khiển Quỹ Ford. McCloy nói rằng sau khi đã nhìn trên nhìn dưới ông ta không thể tìm được một người nào thích hợp với công việc hơn. Người anh em của Bundy là William hiện làm ở Lầu Năm Góc, ngày trước đã làm việc với CIA cho đến năm 1961. Điểm chính yếu ở đây không phải là ám chỉ tội lỗi gì bằng liên tưởng mà là có ý gợi rằng CIA không phải là cơ quan độc nhất đã có thể nghĩ tới quyền lợi chính trị của Hoa-Kỳ khi nó lựa chọn hỗ trợ, hay không hỗ trợ một dự án văn hóa này nọ. Tới một mức độ nào đó, các quỹ tài trợ lớn luôn luôn hành động như những cánh tay nối dài chính quyền. Shepard Stone, người đã phục vụ trong thời Thế chiến thứ Nhất với cấp Trung tá trong Tình báo Quân đội Mỹ và sau này với McCloy ở Phủ Cao ủy Mỹ tại Đức, là Giám đốc Quốc tế Sự vụ cho Quỹ Ford từ năm 1954. Mới đây quỹ Ford đã đảm nhận phần lớn việc tài trợ cho Hội đồng Tự do Văn hóa. Đã nhiều năm Hội đồng này chuyển tiền của CIA cho các công cuộc xuất bản, các hội nghị ở nước ngoài và các công cuộc văn hóa quốc tế khác. Trước đây một năm gì đó thì mối liên hệ giữa Hội đồng và CIA trở thành đề tài bàn tán suy luận rộng rãi. Tới đây CIa bắt đầu rút ngân khoản trợ cấp và Quỹ Ford, từ trước tới nay vẫn lưu tâm tới Hội đồng, liền bắt đầu gia tăng công cuộc tài trợ. Thật là ngây ngô khi cho rằng mối quan tâm chính yếu của Quỹ Ford là bảo vệ sự miễn thuế cho mình như trường hợp một số các quỹ tài trợ nhỏ làm bình phong cho CIA. Cố nhiên các chủ nhân ông của các Quỹ tài trợ lớn cảm thấy bổn phận của mình, tức là của những công dân lãnh đạo, là phải hợp tác với chính sách đối ngoại của Hoa kỳ. Việc Quỹ Ford bắt buộc phải tiếp tục công việc mà CIA bỏ dở, đối với những người điều khiển Quỹ ấy, nhất định chỉ là việc tự nhiên. Chuyện lôi thôi trong tất cả công việc này không phải là ở chỗ các quỹ tài trợ đã lén lút âm mưu với một cơ quan gián điệp, mà là ở chỗ, tùy như các dự án mà các quỹ đó hỗ trợ được thúc đẩy vì lý do chính trị, các quỹ đó không còn được thúc đẩy vì những tiêu chuẩn văn chương hoặc khoa học vô vị lợi nữa. Dĩ nhiên đây không có ý nói rằng tất cả các dự án do các quỹ Ford và Rockefeller đảm nhiệm có thể đã giúp tăng tiến lợi quyền của Hoa kỳ đều là kinh khủng. Một vài dự án trong số đó có ích lợi. Nhưng cái nguyên tắc mà các Quỹ ấy đã dựa vào để có những quyết định liên quan tới một số những dự án văn hóa đôi khi không được trong sạch, bởi lẽ nó đã pha trộn những lý do chính trị với những lý do văn nghệ hoặc trí thức.

(2) trang 5: Vào thời gian này có nhiều người theo Cộng sản đã bắt đầu chuyển hướng. Một số trong bon họ đã được CIA dùng.

(3) trang 6: Đảng viên Cộng sản đã đổi áo, nổi danh vì tố cáo Alger His. (Chú thích của ND.).

(4) trang 9: Những người theo giáo phái xuất hiện ở Zurich từ 1523, chủ trương tách biệt Giáo hội và Chính quyền, người Ki-tô hữu phải từ bỏ tư hữu để sống chung trong một thứ cộng đồng tôn giáo, cải cách xã hội triệt để. (Chú thích của ND.)

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

C.I.A. VÀ CÁC NHÀ TRI THỨC

Trong khi chờ đợi những tài liệu do Wikileaks công bố có liên quan đến những thông tin đến hoạt động của Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội và Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM xin mời các bạn đọc bài viết này để tham khảo.

JASON EPSTEIN

Tạp chí Đất nước số 17-Tháng 1/1970


Ngày trước có cuộc tập hợp của Cộng sản ở công viên Union. Cảnh sát tới giải tán và được một lúc thì các cảnh sát viên khởi sự dùng tới dùi-cui. Có một người chống lại phản đối rằng anh ta không phải là Cộng sản mà là một người chống Cộng sản. “Ta không cần biết chú mày là thức Cộng sản gì”, viên cảnh sát đáp và tiếp tục đánh anh ta.

*

Tôi không còn nhớ là vào đúng năm nào trong những năm 50 khi tôi bắt đầu nghi ngời rằng CIA cùng với Bộ Ngoại giao, Quỹ Tài trợ Ford và những cơ quan tương tự đã biến chủ trương chống Stalin thành một cái nghề phụ khá phát đạt cho những tay cựu cấp tiến và trí thức cánh tả khác, những người lúc ấy và hiện giờ vẫn là bạn bè tôi ở Nữu-ước. Cố nhiên, chứng cớ rành rành đẫ cùng khắp chung quanh tôi trước khi tôi bắt đầu chắp nối lại với nhau hoặc trước khi những khám phá như vậy làm nẩy sinh trong đầu óc tôi cái ý nghĩ là công cuộc chống Cộng có tổ chức đã trở thành một thứ kỹ nghệ trong phạm vi sinh hoạt trí thức của Nữu–ước chẳng kém gì chính phủ trương Cộng sản cách đây khoảng mười năm, và công cuộc chống Cộng ấy đã lôi cuốn nhiều người trong số những bộ mặt cũ, nhân viên của chủ trương trước kia. Tuy nhiên, có một điều khác biệt nghiêm trọng, ấy là công cuộc làm ăn mới này được chu cấp tài chính rồi rào hơn công cuộc ngày trước nhiều, bao gồm cả những hoạt động chi nhánh ở châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh, cùng với những công cuộc xuất bản được tài trợ tất cả ở những nơi này, ấy là chưa kể tới các thứ hội nghị, hội thảo trên quy mô rộng lớn và trong quá nhiều quốc gia cùng với những chuyến bay đi bay về tới tấp đến nỗi ngay ở Quỹ Ford, tức là quỹ trên danh nghĩa tài trợ cho phần lớn những hoạt động này, cũng khó lòng có thể cho là đã chi tiền cho toàn thể những họat động này.

Việc không có một cơ quan rõ rệt nào của chính quyền dính vào, ngoại trừ thỉnh thoảng có Bộ Ngoại giao, đã khiến cho người ta nghĩ rằng hẳn phải có một cơ quan vô hình nào đó. Cái cơ quan dấu mặt mà toàn thể chúng tôi bắt đầu nghe nói tới trong khoảng đầu những năm 50 ấy chính là CIA. Câu kết luận này thật hiển nhiên hoặc đáng lẽ đã phải hiển nhiên, nhưng đối với những kẻ như chính bản thân tôi, không được tiết lộ cái điều bí mật kia thì cũng chẳng có thể làm gì hơn là suy luận, mà thường là với sự phẫn nộ, vào mỗi mùa Xuân khi phát ngôn viên của nền dân chủ Mỹ quốc bay đi Paris, Bombay hoặc Tokyo.

Điều chúng tôi phẫn nộ hơn cả, ngoài việc không được mời đi, là chính quyền dường như đương điều khiển một chuyến tầu biệt đãi ngấm ngầm, trong đó những toa xe thượng hạng không phải lúc nào cũng chuyên chở những hành khách thượng thẳng: CIA và quỹ Ford trong số các cơ quan khác đã thiết lập và tài trợ một bộ máy các nhà tri thức được lựa chọn vì có những lập trường chiến tranh lạnh trúng cách để thay thế cho cái mà ta có thể gọi là thị trường trí thức tự do nơi ý thức hệ được coi như không đáng kể bằng tài năng và thành quả cá nhân và cũng là nơi những mối nghi ngờ về các thức chính thống liên hệ tới chính quyền được coi như khởi sự của mọi tìm hiểu truy cứu. Trong vụ tranh luận mới đây về việc CIA có dính líu với các nhà trí thức, có một điều dường như không được vạch rõ: ấy là đây không phải là vấn đề mua chuộc và khuynh đảo mỗi cá nhân nhà văn hay học giả mà là vấn đề thiết lập một hệ thống giá trị chuyên đoán và giả tạo, dựa theo đó các giới chức đại học được thăng cấp, các tay chủ trương các tạp chí được chỉ định và các học giả được trợ cấp và xuất bản không nhất thiết là vì họ có tài cán xứng đáng, mặc dầu những công trạng đó đôi khi cũng đáng kể, mà là vì sự thuần phục chính quyền của họ. Cái lỗi của CIA không phải là đã làm hư hỏng kẻ ngày thật mà là đã ra sức, mưu mô lén lút với một nhóm tay trong, làm khó một thị trường tự do. Nếu người ta biết được những tay chủ ngân hàng và luật gia thời danh điều khiển CIA và những quỹ tài trợ lớn (1), thì hẳn những chiến thuật kia chẳng làm ai ngạc nhiên, và quả thật sau tí lâu những chuyện ấy không còn làm ngạc nhiên nữa. Người ta thở dài khi lại khám phá thấy một cái trò bất lương được trợ cấp bộn bạc lòi đuôi ra từ những vùng rậm rạp thâm u của đời sống tập thể và công cộng của Mỹ quốc và lần này, thương ôi, lại ngay trước ngưỡng cửa nhà mình.

Tuy nhiên nói như vậy là diễn tả quá giản dị, là vì các các nhân có dính líu (dĩ nhiên có nhiều nhà trí thức không liên can gì hết hoặc cũng không biết tới chuyện gì đương liên quan gì hết hoặc cũng không biết tới chuyện gì đương xẩy ra nữa) không hề đồng nhất đến như việc trình bầy ở trên gợi ra, mức độ dính líu hoặc những thái độ của từng người đối với các cuộc âm mưu cũng không cùng một tính chất. Muốn hiểu thế giới trí thức của Nữu-ước, cũng không hẳn chỉ là trí thức và chưa bao giờ hoàn toàn là một thế giới), có lẽ người ta phải có kinh nghiệm trực tiếp về nó hoặc nếu không thì phải chờ đợi một ông Proust tương lai của vùng Trên khu vực phía tây Manhattan, nơi hầu hết các hoạt động của thế giới ấy đã diễn ra.

*

Trong những năm 50 sinh hoạt trí thức ở Nữu-ước kín bưng hơn bây giờ nhiều. Sinh hoạt ấy tập trung vào các thế giới trùng lấp và thường khi có thể trao đổi lẫn lộn được của tạp chí Partisan Review và Commentary. Có nhiều nhân viên của các tạp chí này đã gặp gỡ nhau khi còn là sinh viên ở các trường Cao đẳng tại Nữu-ước trong thời khủng hoảng kinh tế. Là sinh viên một phần lớn những người đó đã bác bỏ chủ trương tự do phóng khoáng New Deal để chấp nhận một hình thức này hay một hình thức khác của chủ nghĩa Mác triệt để. Toàn thể những người đó đã bác bỏ hoặc tình cờ bác bỏ chủ nghĩa Stalin. Bầu không khí trí thức trong đó họ trưởng thành là một bầu không khí tranh luận sôi nổi. Cường độ của nó tồn tại qua những năm 50 và cả đến bây giờ cũng chưa bắt đầu tan đi. Tờ Partisan Revew triệt để cấp tiến (hay đã từng mang tính chất này), có tính chất văn nghệ, Mác-xit, đại đồng tiên tiến, Trốt-kít, đứng tuổi, không ở nguyên một chỗ. Tờ Commentảy, trong khoảng đầu những năm 50, có chủ trương đồng hóa, dầu không bị đồng hóa, chống Stalin tới mức bác bỏ luôn cả chủ trương cấp tiến triệt để, và do đó lao vào cuộc tìm kiếm những cách thế để tự thích nghi với hệ thống các giá trị Mỹ trôi vượt, tức là những giá trị lúc ấy, cũng như bây giờ ở một mức độ lớn hơn, được xác đinh trên một nền kinh tế ngày càng bành trướng dựa vào căn bản lợi tức lên cao dần và ý thức hệ chiến tranh lạnh. Điều đó không có ý nói rằng cái chủ trương cấp tiến triệt để còn lại của tờ Parisan có pha trộn với tự mãn hoặc chủ trương đồng hóa của tờ Commentary loại bỏ phê bình sắc bén xã hội Mỹ, cũng chẳng ngụ ý rằng các nhà văn và những người chủ trương của các tạp chí ấy xung khắc với nhau. Thật ra, họ là những người bạn cùng nói ngôn ngữ chung, và nếu họ có khác nhau, thì những sự khác biệt ấy cũng chẳng đến nội thu hẹp đến độ không lan tới tờ New Leadẻ, tức là tờ tạp chí đã đem cái lập trường của tờ Commentary sang cánh Hữu cho đến khi hòa lẫn với quan điểm của các tờ Time, Fortune, và cả tờ Readẻ’s Digest hoặc tờ Dissent tức là tạp chí đã có một lập trường ở phía Tả của tờ Partisan, báo trước khá kỹ cái giọng triệt để cấp tiến hết sức mạnh mẽ xuất hiện trong những năm 60.

Tình trạng bạn bè này có nhiều căn nguyên, tỏng đó có nguồn gốc Mac-xit va Do – Thái của nhiều người trong bọn, đã tạo ra một không khí nồng ấm và ướt át đến độ đã mau chóng quyến rũ được đủ loại những dân WASPS (Trung lưu da trắng Tin Lành), những dân da đen, Ái nhĩ Lan và những kẻ khác tới gần. Quan trọng hơn nữa là sự thù ghét chung và đôi khi như bị ám ảnh của họ đối với chủ nghĩa Stalin mà thế hệ hiện tại của những người triệt để cấp tiến hết sức khó hiểu, mặc dù nội dung xúc cảm của mối thù ghét kia có lẽ cũng không khác gì lắm những tình cảm của chính những người sau này đối với bọn tri thức đương âm mưu hoặc có vẻ như âm mưu CIA. Đối với những người trí thức của những năm 50 mươi thì Stalin không chỉ có thành trừng và hành hạ các đồng chí cũ của mình, không chỉ có giết hàng triệu người Nga, ký thỏa hiệp với Hitler, và đàn áp các văn nghệ sĩ mà thôi. Stalin còn làm một điều gì đó trực tiếp ảnh hưởng tới chính đời sống của họ, hệt như CIA và Bộ Ngoại giao không phải chỉ có thiêu đốt mùa màng, làng mạc, nhân dân VN, mà còn mang quá nhiều đau khổ vào đời sống của quá nhiều người trẻ tuổi ngày nay. Điều mà Stalin đã làm, xúc phạm tới thế hệ những người trí thức trưởng thành giữa những năm 30 và 50 là phản bội cái khuynh hướng lý tưởng và sự ngay thật của tuổi thanh niên của họ. Bằng cách làm sai lạc chủ nghĩa Mác cách mạng, ông đã lừa bịp họ tận trong sâu thẳm hinh hồn của họ, ấy là nói như vậy. Việc họ đã dành mọi năng lực còn lại để trả thù không có gì đáng ngạc nhiên.

Thế nhưng khuynh chống Stalin lúc ấy không phải là một vấn đề bực tức cá nhân. Việc Stalin có những tham vọng chính trị ở Châu Âu và ở nơi khác, gồm cả Hoa kỳ nữa, còn là một sự kiện khách quan. Đấy là những ngày của Hội nghị Waldorf với mưu toan nhơ nhớp của những tay Cộng sản và những kẻ đồng hành muốn điều động văn hóa; của chiến tranh Triều Tiên và cuộc phong tỏa Bá-Linh; một thời mà thiên hạ nói, ánh sáng của các thủ đô Ba-lan và Tiệp khắc chỉ còn lờ mờ qua những khung cửa ngục tù. Mặc dù Gar Alperovitz và các sử gia xét lại khác có thể nói đúng khi lý luận rằng những lo sợ và tham vọng của Mỹ cũng liên hệ tới nguồn gốc của Chiến tranh lạnh không kém gì những vận động gian xảo của Stalin và Molotov, thế nhưng mười lăm năm trước gạt bỏ hẳn trong đầu óc mối đe dọa xâm lăng của xô viết thời có vẻ phi lý. Đối với chúng tôi lúc ấy một cuộc chiến tranh ở châu Âu dường như là một điều khả hữu rõ rệt và khủng khiếp, và không ai tưởng đến một kẻ nào khác hơn là Stalin có thể khởi sự cuộc chiến ấy.

*

Dầu sao chăng nữa đó cũng là những ảnh hưởng, những lo sợ và giận dữ chi phối và diễn tả rõ ràng các nhà tri thức chính trị ở Nữu-ước trong những năm 50. Những mối giây chằng nối kết khá mạnh khiến trong gần 10 năm không một dị biệt về tính tình nào hoặc bị biệt về sự chú trọng hoặc về mực độ hoặc về cảm nghĩ cá nhân nữa có thể làm suy yếu đi một cách nghiêm trọng.

Cả đến bài báo nổi tiến của Irving Kristol về McCarthy và những người chủ trương tự do xuất hiện trên tờ Commentary cũng có thể được thích nghi, dầu không phải là không làm bùng lên rõ rệt ở phía cực hữu của cơ quan này. Trong bài tham luận này Kristol đã khảo sát một giả thuyết cực đoan. Ông đã ra sức biện luận rằng sỡ dĩ có chủ trương chống Cộng McCarthy lỗi một phần là ở thái độ mềm yếu và nhầm lẫn của những nhà ván chủ trương tự do như Alan Barth và Herry Steele Commager đối với chủ nghĩa Satlin. Vì những người chủ trương tự do đã không mạnh tay đủ trong khi theo đuổi những kẻ theo Stalin và vì họ bênh vực những quyền tự do dân sự của những hạng người đe dọa như Owen Lattimore nên họ đã để McCarthy được bành trướng mạnh mẽ, ít nhiều gì cũng là do sự thiếu sót của họ, và tệ hơn nữa họ đã để cho đồng hóa chủ trương tự do và chủ trương Stalin như nhưỡng tin tưởng sai lạc có thể sánh được với nhau nếu không phải là không thể phân biệt được. Mặc dầu Kristol đã minh thị lên án chủ trương chống Cộng McCarthy và các đồng bạn nhu nhược, nhân viên Ủy ban. Vào lúc ấy (năm 1952) bài báo của Kristol đã lay động hầu như hết mọi người, mặc dầu, để bào chữa cho Kristol, người ta cũng cần nói rằng ông đã chẳng làm gì hơn là đẩy cáilô-gích của chủ trương chống Stalin tới độ cùng của nó, tẩy trừ những vết trích tình cảm lẩm cẩm cuối cùng của những kẻ chủ trương tự do. Mặc dầu đường ranh giới Oder-Neiss vẫn chưa bị chọc thủng (và cố nhiên vẫn phải như vậy), chúng ta vẫn ở trong tình trạnh chiến tranh, những người bào chữa cho Kristol đã lý luận nư vậy. Bởi đó mà việc Kristol công kích những người chủ trương tự do là một đáp ứng cần thiết và thực tiễn, nếu người ta không muốn cho nước Mỹ bị tổn hại bì sự khuynh đảo nội bộ (2). Vào những ngày đó Kristol đã ngĩ tới việc viết một cuốn sách về Machiavelli. Chỉ sau đó ít lâu thôi ông trở thành chủ biên người Mỹ đầu tiên của tờ tạp chí Encounter và mặc dầu phải mất nhiều năm mới bật tung ra, chỗ phông lên nhỏ bé ở phía cực hữu kia đã bắt đầu mưng mủ. Nếu Kristol thấy là có thể ám chỉ rằng McCarthy là một thứ gì xấu xa cần thiết, sẵn sàng làm một công việc bẩn thỉu mà các côngdân đáng kính trọng thiếu can đảm và sáng suốt để đảm nhiệm, và nếu ông đã tìm thấy đã sự ủng hộ nới một vài người bạn trí thức của ông đối với trường hợp mà ông đưa ra, thì liệu có một hình thái nào của cuộc giao tranh với chủ nghĩa Cộng sản của nước Mỹ mà ông hoặc họ rốt cuộc có thể thấy là không sao chịu nổi không? Đó là một vấn nạn hay và hiện người ta vẫn trông chờ câu trả lời.

Việc CIA, ngửi thấy địa bàn nẩy nở thuận lợi cho một số những tin tưởng lầm lạc của chính nó đối với những công cuộc hợp lý hoặc sớm hơn nữa, chỉ có một tầm quan trọng nhỏ. Điều thực sự đáng kể là một vấn đề nguyên tắc trí thức, một thái độ đối với lịch sử, đối với đời sống của chính trí thức. Phải chăng chủ trương chống Cộng độc ác McCarthy là cái giá đáng phải trả cho một chiến thắng về tranh luận trong cuộc chiến tranh với chủ nghĩa cộng sản ? Chẳng phải hình thức chống Cộng của Kristol (ở một điểm trong bài tham luận, ông dường như đã muốn nói rằng Stalin, Goering và Hiss đều là những con quái vật có thể sánh với nhau được) đã làm tê liệt rí óc và tình cảm khiến khi cho cuộc chiến ở VN rớt ngay trong lòng chúng ta, một số người trong chúng ta đã hóa nên quá cứng cỏi không còn cảm thấy cái xuẩn ngốc và kiêu căng t khiến khi cho cuộc chiến ở VN rớt ngay trong lòng chúng ta, một số người trong chúng ta đã hóa nên quá cứng cỏi không còn cảm thấy cái xuẩn ngốc và kiêu căng tự phụ là cái tự đó hình thức kia phát triển và cũng là cái tiếp tục nuôi dưỡng nó đấy sao?

Nước Mỹ lúc ấy đã cho chúng tôi nhiều cái phải lo nghĩ hơn là chủ trương chống Cộng McCarthy, cũng như ngày nay đã cho chúng ta nhiều cái phải lo nghĩ hơn là chỉ có VN. Cái điên khùng của thời kỳ đầu những năm 50 và cái chém giết diễn ra hôm nay không phải là những triệu chứng tách biệt, không liên quan mà là những hình thái của một căn bệnh lớn hơn mà những dấu hiệu đã không thể nào lầm được vào những lúc năm 50 trôi qua. Về cuối những năm 50 đó nhiều người trong chúng tôi đã thấy rõ là những cái xấu xa của chủ nghĩa Stalin không đảm bảo một cái hay cái tốt tương ứng ở chính quê hương mình (Cuốn Growing Up Absurd của Paul Goodman, nguyên được đăng trên tờ Commetary vào cuối những năm 50 đó, đã diễn tả trường hợp ấy rõ rệt nhất). Ở ngày trong nước vừa có nhiều lại vừa có ít cái phải bênh vực hơn ta tưởng. Vào những năm 60 bênh vực cho nước Mỹ không còn phải là chuyện dễ nữa, và khi tâm trạng bối rối khó xử này đè nặng thêm thì sự chặt chẽ của cộng đồng những tri thức bắt đầu tan rã.

Để cho gọn, ta hãy nói ngay là từ sự hòa hợp nhau ban đầu kia xuất hiện phai phe phái. Ngoại trừ những thành phần cực đoan, hai phe đó không bao giờ hoàn toàn tách biệt hẳn về mọi phương diện và cả hai phe đều ôm ấp, trong những khoảng cách thật phức tạp giữa hai phe, một số những điều cam kết được phát biểu một cách khéo léo, và bao gồm một số những nhân vật mà tính chất hàm hồ thường làm cho không thể nào phân loại được họ. Vì cái không khí lúc này và sự việc rất có thể có, tuy mơ hồ nhưng không phải là không thể tưởng tượng được, một tay Whittaker Cham-ber (3) của cánh Tả xuất đầu lộ diện một ngày nào đó - cũng như vì việc không thể có được sự phân loại có ý nghĩa, khi biết những nhân vật và biến cố phức tạp mà tôi phải động tới – tôi không muốn nhận diện những phe phái này, đồng hóa chúng với những nhân vật có thể là thành phần của những phe phái ấy. Tôi sẽ để công việc này cho ông Próut tương lai mà tôi đã hình dung thấy và là người, theo chỗ tôi biết, ngay lúc này rất có thể đã bắt tay vào việc. Thay vào đó, tôi sẽ liều một cách khác và sẽ mô tả những phe phái này một cách tuyệt đối. Làm như vậy tất không tránh được sự giản lược quá đáng và có lẽ một mực độ khe khắt nào đó đối với phe Hữu mà tôi không chia sẻ những tin tưởng, cũng như sự rộng rãi đối với phe kia.

Ấy tuy nhiên, mấy chữ Tả và Hữu tự chúng cũng dễ gây lầm lẫn, bởi sự chia sẻ phân cách thành phe phái đối lập chính yếu không phải bắt nguồn từ những tranh luận của đôi bên về chủ nghĩa xã hội, về ai có bổn phận kiểm soát các bộ máy kinh tế hoặc về của cải sẽ phân phối ra sao... Vấn đề sâu xa hơn thế. Nó không liên hệ với ai kiểm soát và hưởng lợi từ việc khai thác đất đai và bóc lột nhân dân mà liên hệ tới chính sự kiện khai thác bóc lột ấy. Bây giờ thì các sự kiện đã rõ ràng hơn là mười năm trước đây. Lúc ấy chúng tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy đất nước dường như rơi vào một cơn điên tự hủy diệt, phân xẻ các đô thị ra từng mảnh nhỏ, làm ô ế phong cảnh trong nước, đầu độc những dòng nước và những khoảng trời, tầm thường hóa đến vô nghĩa công cuộc giáo dục của con em mình, và không phải vì hạnh phúc thật sự của con người – hạnh phúc này chẳng bao giờ có thể tăng thêm được với những chiến thuật ấy – mà là vì những món lời cao hơn và phát triển kinh tế là những giá trị mà như không một ai thời ấy đặt vấn đề cả, tuy nhiên những thứ đó đã lấn lướt cả những giá trị truyền thống hơn như đời sống riêng tư của mỗi người, sự thành đạt cá nhân và công ăn việc làm có ý nghĩa. Điều chúng tôi nghiệm thấy lúc ấy là cái chủ trương bành trướng quen thuộc của bọ trọc phú ngu đần (mà người Việt-nam chỉ là những nạn nhân mới nhất), lần này dính liền với một khoa học kỹ thuật học ghê gớm mà những khả năng khủng khiếp cho tới lúc này vẫn chưa rõ rệt, nhưng ngay lúc đó đã ở ngoài tầm mức con người một cách thật thê thảm và càng ngày biệt lập. Sự bành trướng này cũng chẳng thấy làm được gì tốt đẹp trong một khu vực mà đáng lẽ cái hại của nó rất có thể được người ta bỏ qua. Người nghèo khổ, tương phản với sự thịnh vượng mới, lại còn nghèo khổ hơn bao giờ hết, và không phải chỉ nguyên ở nước Mỹ mà còn ở cùng khắp thế giới nữa, và người ta đã bắt đầu thấy dường như, bất kể những thứ mỹ từ mà các phát ngôn viên của chính quyền Kennedy tương lai ngay từ lúc ấy chắc chắn đã phải sửa soạn, tình cảnh của những người nghèo chỉ có thể ngày càng sa sút tệ hại hơn trong lúc giới trung lưu ụt ịt leo lên, các hệ thống thư lại quan liêu của chính quyền liên bang ngày càng tinh vi và công cuộc theo đuổi tiền bạc và quyền bính đã trở thành công việc chính nếu không phải là duy nhất của nước Mỹ.

Thật quá tệ là việc này xẩy ra ngay trong nhà. Ấy là việc, để giới hạn công cuộc bành trướng của Cộng sản, một công cuộc mà cuối thập niên kỷ này ta mới có chứng cớ hơn những gì người ta đã khiến chúng ta tưởng tượng, nước Mỹ phải ra sức bắt các dân tộc khác trên thế giới nhìn nhận những tin tưởng cố định ám ảnh mình. Việc này chắc chắn là thảm hại. Những gì các xứ nghèo khổ hơn cần tới không phải là ý thức hệ chống Cộng, mà là những phương thế giúp họ đánh bại được sự nghèo khổ. Tuy nhiên, đây là điều mà nước Mỹ, với tất cả những chương trình viện trợ của mình, dường như không thể hoặc không muốn cung cấp. Thay vào đó, chúng ta dường như đương ủng hộ những chế độ phản độn ở khắp thế giới. Cải tương phản mạnh mẽ giữa sự giàu có ở Mỹ và sự nghèo khổ ở nơi khác, đối với nhiều người trong chúng ta, dường như là nguồn gốc thật sự của bất cứ những gì đương đầu độc thế giới. Cái bất an thật sự không còn phải là chủ nghĩa Stalin, và người ta đã bắt đầu thấy rõ là dường như đó cũng không phải là chủ nghĩa Cộng sản nữa.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

Quyền lực thứ tư

Tháng 5/1789, vua Pháp Louis XVI triệu tập đại diện của các đẳng cấp đến họp tại cung điện Versailles.

Đẳng cấp thứ nhất gồm 300 nhà quý tộc.
Đẳng cấp thứ hai gồm 300 chức sắc tăng lữ.
Đẳng cấp thứ ba gồm 600 thường dân.

Vài năm sau, sau Cách mạng Pháp, Edmund Burke nhìn lên khu vực dành cho giới báo chí trong Hạ viên, nói "Trên đó là đẳng cấp thứ tư, và họ nắm giữ quyền lực nhiều hơn mọi đẳng cấp khác".

(Lời tác giả trong cuốn sách "Quyền lực thứ tư" của Jefferey Archer, NXB Lao Động 2000).

Thứ Tư, 3 tháng 11, 2010

"Một bài học trên mạng xã hội"


Liệu có ai sẵn lòng gửi cô Mai Mislang, người chấp bút diễn văn "chăm chỉ và đáng tin cậy" của Tổng thống Philippines - Benigno Aquino, một bản chỉ dẫn về phương tiện truyền thông xã hội không?

Cô Mislang đột nhiên trở nên “nổi tiếng” vào thứ Năm tuần qua, khi là thành viên của phái đoàn tổng thống đến Hà Nội (trong một chuyến thăm cấp nhà nước và dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 17), cô đã tham dự dạ tiệc chiêu đãi quốc gia và đăng lời của sếp của mình trên Twitter rằng "rượu tệ quá".

Đã có nhiều bình luận thiếu tôn trọng, nhưng sếp của cô, ông Ricky Carandang và là người phụ trách Phát triển Truyền thông và Kế hoạch Chiến lược của Văn phòng Tổng thống Philppines, đã không cảm thấy phiền và thậm chí còn hỏi lại là vang đỏ hay trắng. Cô Mislang trả lời: "Đỏ. Rượu trắng ngon hơn".

Trong sự ra đời của những phương tiện truyền thông xã hội hiện nay (mà phổ biến nhất là Facebook và Twitter), nơi mà những phát biểu mang tính cá nhân và công cộng đã không còn rõ biên giới, thì vẫn còn có những chỉ dẫn về việc nên và/hoặc không nên phát biểu gì trên đó.

Và điều sau đây từ chỉ dẫn của Đài phát thanh Quốc gia Mỹ (NPR) nên được đặc biệt lưu ý cho cô Mislang: "Cần công nhận rằng tất cả mọi thứ bạn viết hoặc nhận được trên một trang truyền thông xã hội là công khai. Bất cứ ai truy cập vào web đều có thể nhận biết hoặc tham gia vào mọi hoạt động của bạn trên mạng xã hội. Và bất kể bạn cẩn thận thế nào trong việc phân định công-tư thì trong hoạt động trực tuyến của mình, cuộc sống trong công việc và cuộc sống cá nhân vẫn chồng lên nhau".

Kể cả chỉ dẫn sau cũng liên quan đến Mislang: "Trong một diễn đàn xã hội, bạn nên tự tìm hiểu về việc nên bày tỏ hành vi và bình luận mình như thế nào nếu bạn được yêu cầu phải bảo vệ chúng như hình ảnh như của một tổ chức thông tấn (trong trường hợp của cô ta là Văn phòng Tổng thống – P.V). Nói cách khác, đừng hành xử trên mạng một cách khác biệt so với ở bất kỳ thiết chế công cộng nào khác".

Quan điểm của LA Times cũng cần được nhấn mạnh đối với Mislang: "Cuộc sống trong công việc và cuộc sống cá nhân của bạn sẽ kết hợp trực tuyến bất kể bạn có cố gắng tách biệt chúng ra. Ngay cả khi bạn sử dụng các công cụ bảo mật (ví dụ như quyết định những ai có thể xem trang hoặc hồ sơ của bạn), hãy giả định rằng tất cả những gì bạn viết, trao đổi, nhận được trên một trang mạng xã hội là công khai."

Tuy vậy, ở trường hợp của cô Mislang, sự việc không tôn trọng nước chủ nhà của cô không dừng lại ở rượu. Cô còn thậm chí giật tít trên Twitter rằng: "Xin lỗi, không có người đàn ông nào đẹp trai ở đây cả!". Hay một tít khác trên Twitter có vẻ không mang tính chất "thành kiến" như hai câu trên, cô nói: "Cách dễ chết nhất là băng qua làn đường đầy xe máy phóng như bay của Hà Nội".

Trong tất cả các tweets, cô đều để dấu # trước từ "Vietnam", như một cách đánh dấu những vấn đề có sử dụng cụm từ này trên khắp Twitter. Đó là cách Mislang, có lẽ là vô tình, đã đẩy lời lăng mạ Việt Nam của cô đến với nhiều người trên thế giới, có thể ảnh hưởng đến sự đón tiếp tử tế và lịch sự dành cho phái đoàn từ Philippines mặc dù chuyến thăm của ông Aquino đã bị đổi thời gian vào giờ chót.

Một nguồn tin từ Bộ ngoại giao Philippines cho biết những thông tin trên Twitter của Mislang đã được bàn luận rất nhiều trên các trang web tiếng Việt. Trong khi đó, chính phủ Philippines vẫn "tử tế giữ im lặng" về sự việc đáng lý không nên nói ra mà đã bị một thành viên trong phái đoàn Philippines phóng đại lên thay vì cũng phải giữ kín.

Được biết Mislang đã xin lỗi thông qua Carandang và một đồng nghiệp tại văn phòng liên lạc, Manolo Quezon. "Tôi xin lỗi vì những bình luận của tôi. Nếu tôi đã xúc phạm bất cứ ai, xin hãy hiểu rằng tôi không cố ý như vậy. Tôi cảm thấy rất may mắn được đến một đất nước xinh đẹp và những người dân nồng ấm mến khách", cô được cho là đã nói như thế. Mislang đã bỏ tài khoản twitter và tôi không thể tìm thấy tài khoản Facebook của cô nữa.

Lời xin lỗi của cô bị lên án là đạo đức giả. Tôi không ngạc nhiên bởi đây không phải là lần đầu tiên Mislang có những nhận xét khiến người khác khó chịu trên Twitter. Giữa chiến dịch tranh cử, chương trình "Chính trị Khắc nghiệt" của kênh ANC có sự tham gia của ông Delfin Bangit mà sau đó là Tổng tham mưu Lực lượng Vũ trang Philippines. Trong chương trình này, ông Delfin đã nói chuyện về các biện pháp quân sự để chắc chắn bầu cử sẽ diễn ra trong hòa bình và trật tự, thì cô Mislang đã giật tít trên Twitter là "xấu xí". Đó rõ ràng là biểu hiện của sự non nớt và ngạo mạn và có thể làm vẩn đục thêm môi trường của Malacañang (Văn phòng Tổng thống Philippines).

Một phóng viên cho biết khi qua thăm Twitter của Mislang và đọc thấy cô kể về việc Tổng thống đã gọi cho cô để sửa lại bài diễn văn trong khi cô đang đi tập thể dục trên máy chạy bộ hoặc trang điểm.

Có thể cô đã quá choáng ngợp vì quyền lực khi được là một phần trong nhóm “cố vấn cấp cao” (think tank) của Tổng thống và quên rằng mình chỉ là một người chấp bút. Có người cho rằng cô chỉ là một "bóng ma" và không hề tỏ ra trách nhiệm, dù chỉ là một phần, như những gì ông Aquino đã giới thiệu.

Những bình luận của Mislang mâu thuẫn với sự thiếu hiểu biết của cô nhiều lĩnh vực và thái độ khinh khỉnh của mình đối với người khác. Bằng chứng là sự thiếu tôn trọng với lịch sử dũng cảm và dấu ấn vươn lên từ chiến tranh của Việt Nam. Việt Nam có thể chỉ là một "quốc gia bé" về địa lý châu Á nhưng đã ngẩng cao đầu chống lại sức mạnh thực dân. Việt Nam đã đánh bại và đuổi quân Pháp năm 1945 và quân Mỹ năm 1975. Hiện tại, so với Philippines thì Việt Nam tỏ ra hiệu quả hơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

Mặc dù ăn nói thiếu cẩn trọng như vậy nhưng Mislang luôn được bảo đảm một vị trí trong Malacañang. Như Carandang đã nói, Mislang được tổng thống Aquino tin cẩn. Cô đã sát cánh cùng ông trong những ngày ông quay về Thượng viện.

Bên cạnh đó, nếu ông Aquino đã bảo vệ Rico Puno và đề bạt ông làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chính quyền địa phương, cũng như không làm gì để trừng phạt cựu Giám đốc cảnh sát quốc gia Jesus Versoza (cũng đừng ngạc nhiên nếu ông ta được bổ nhiệm đại sứ) bất chấp sự tắc trách đã dẫn đến thảm kịch bắt cóc con tin hôm 23-8, thì những câu nói trên Twitter của Mislang có là nghĩa lý gì!?

Như Carandang đã nói, "Đây chỉ là một sự cố nhỏ".

Ellen Tordesillas
Yahoo! Đông Nam Á

CẢNH TOÀN dịch, Hạo Nhiên hiệu đính

Hình: Mai Mislang đăng câu “Xin lỗi, ở đây không có người đàn ông nào đẹp trai cả” trên Twitter cá nhân

(Bài gốc ở đây)